Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024

 


HOA MÂN CÔI    

Tháng 10/ 2024

***

Ý nguyện: Trong tháng này, chị em hãy cầu nguyện cho chính mình và cho mọi người trong Giáo hội Công giáo biết cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, để nhờ Mẹ và qua Mẹ, chúng ta sống gắn bó mật thiết với Chúa mỗi ngày một hơn. 

I . ĐỌC TIN MỪNG LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI    Lc 1, 26-38 (Tin mừng Luca chương 1 từ câu 26 đến câu 38. Mọi người đọc chung, đọc chậm rãi ít nhất là 3 lần và tinh lặng ít phút sau mỗi lần đọc).

Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.

Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”

Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

II. GỢI Ý CHIA SẺ

1-  Nội dung đoạn Tin mừng trên, nói về điều gì ?

-  Đoạn Tin mừng trên đây, thánh Luca thuật lại việc thiên thần Gáp-ri-en truyền tin cho Đức Maria và việc Đức Mẹ đáp lại thánh ý Thiên Chúa bằng hai tiếng “Xin vâng”.  

2-  Qua đoạn Tin mừng trên đây, Chúa nói gì với tôi ?

-  Qua đoạn Tin mừng trên, Chúa muốn tôi chiêm ngắm cuộc đời của Mẹ Maria và noi đòi bắt chước các gương nhân đức của Đức Mẹ.

-  Nhân đức đầu tiên Chúa muốn tôi noi gương bắt chước Đức Mẹ đó là đức khiêm nhường. Nhân đức này đã được Giáo hội mời gọi tôi thực hiện trước tiên trong 20 mầu nhiệm Mân Côi, rồi mới đến các nhân đức khác như: Yêu người, thanh bần, vâng lời, giữ ơn nghĩa với Chúa.

-  Hơn nữa, qua các mầu nhiệm 5 sự sáng; 5 sự thương, 5 sự mừng, Giáo hội cũng mời gọi tôi tiếp tục noi gương các nhân đức khác của Chúa Giêsu và Đức Mẹ để mỗi ngày tôi được trở nên giống Chúa Giêsu và giống Mẹ chí thánh của chúng ta.

-  Qua biến cố thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ, Chúa cũng muốn tôi noi gương Mẹ Maria bằng cách đáp lời xin vâng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, để tôi luôn thực hiện ý Chúa muốn trong suốt cuộc đời của tôi.

3-  Chúa mời gọi tôi như vậy, tôi đã làm được gì ?

-  Chúa mời gọi tôi noi gương Đức Mẹ, mau mắn đáp lời thưa xin vâng trước lời mời gọi của Chúa. Thế nhưng, tôi vẫn chần chừ, chưa mau mắn hoặc không đáp lại bằng thái độ vâng phục mà vẫn hay làm theo ý riêng của mình.

-  Thánh ý Thiên Chúa nhắc bảo tôi qua việc tuân giữ lề luật của Thiên Chúa, luật của Giáo hội, qua các mối phúc. Lời Chúa nhắc bảo tôi qua Kinh Thánh, qua tiếng lương tâm: “làm lành, tránh dữ”. Nhưng tôi vẫn cứ bỏ ngoài tai, vẫn bất tuân, vẫn làm theo ý riêng mà không làm theo thánh ý Thiên Chúa.

-  Qua mỗi mầu nhiệm Mân Côi, Giáo hội đều mời gọi tôi phải tập luyện các nhân đức theo gương Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Thế nhưng, tôi vẫn đọc theo thói quen hoặc đọc cho xong bổn phận mà không vận dụng để tập luyện nhân đức nhằm triệt tiêu các thói xấu trong con người của tôi.

-  Đức Mẹ là người triệt để lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa. Còn tôi, tôi vẫn bất tuân phục thánh ý của Ngài. Nếu tôi cứ tiếp tục sống bất tuân như vậy, sau này tôi sẽ đi về đâu ? Câu hỏi đó không khó để trả lời.       

4-  Tôi có quyết tâm thực hành những điều Chúa đòi hỏi tôi không ?

-  Đứng trước những lời mời gọi của Chúa và của Giáo hội, tôi không thể cứ mãi giả điếc làm ngơ, cũng không thể chần chừ mãi như vậy được. Điều đó, đòi buộc tôi phải đưa ra quyết tâm sửa đổi đời sống của tôi. Bởi vì, đó chính là bước quyết định cho số phận đời đời của tôi.

-  Do đó, từ nay đứng trước lời mời gọi của Chúa, tôi phải mau mắn đáp lời vâng phục Thánh ý Thiên Chúa để triệt tiêu ý riêng của tôi.

-  Đối với Đức Mẹ, dù không hiểu thánh ý Thiên Chúa, nhưng Mẹ vẫn hoàn toàn vâng phục để thánh ý Thiên Chúa được thực hiện nơi Mẹ. Bởi vì, Mẹ xác tín rằng: Thiên Chúa luôn mong muốn và làm những gì tốt đẹp nhất cho Mẹ và cho con cái của Chúa. Chính vì vậy mà Mẹ luôn sẵn sàng phụng lệnh Thiên Chúa.

-  Noi gương Mẹ, từ nay qua mỗi mầu nhiệm Mân Côi, tôi phải cố gắng tập luyện và quyết tâm thực hiện các nhân đức của Chúa Giêsu và Đức Mẹ đã nêu gương cho tôi, để đời sống của tôi được thực sự biến đổi và để đem lại cho phần rỗi đời đời của tôi. Amen.

* Cầu nguyện cho chị em đã được Chúa gọi về trong tháng.

1- Anna Nguyễn Thị Bang, Họ Nhà xứ, Giáo xứ Vinh Tiến.

2- Maria Nguyễn Thị Thái, Giáo điểm Hích, Giáo hạt Thái Nguyên.

3- Maria Nguyễn Thị Thuý, Họ Nhà xứ, Giáo xứ Bắc Giang.

4- Maria Chu Thị Nhất, Họ Nhà xứ, Giáo xứ Phượng Giáo.

*Lưu ý: Theo lịch phân công, tháng 11 tới, Giáo hạt Vĩnh Phúc sẽ tập trung về TTTM Từ Phong để dâng hoa kính Đức Mẹ. Nhưng, vì Thứ Bảy đầu tháng này trùng với LỄ CẦU HỒN, nên chị em sẽ tập trung vào lúc 16h00 thứ Bảy, ngày 09/11/2024. để học hỏi, chia sẻ Lời Chúa => 18h00 dâng hoa kính Đức Mẹ => 18h30 Thánh lễ. 

                                       Lm. Phêrô Mai Viết Thắng

                                        Đặc trách Hội Mân Côi

                            Giáo Phận Bắc Ninh.

                                                                                




 


HỘI TRƯỞNG GIA ĐÌNH GPBN - Tháng 10/2024

I. LỜI CHÚA: Thứ Tư sau CN XXVI TN - Mt 18,1-5.10

II. SUY NIỆM: THIÊN THẦN BẢN MỆNH

Đoạn Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về sự hiện diện đầy yêu thương của Thiên Thần Bản Mệnh trong cuộc sống mỗi người. Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng thiên thần của những trẻ nhỏ luôn chiêm ngưỡng nhan thánh Thiên Chúa, và đồng thời, các ngài cũng luôn bảo vệ và hướng dẫn chúng ta trên con đường trần gian đầy những nguy hiểm và thử thách.

Trong hành trình đời sống trên trần thế này, chúng ta không chỉ gặp phải những thử thách bên ngoài như những khó khăn về vật chất, công việc hay sức khỏe, mà còn phải đối diện với những nguy cơ nội tại. Có những lúc ta dễ dàng bị cám dỗ dừng lại, không dám bước tiếp vì sợ hãi rủi ro hoặc lo lắng về tương lai. Đoạn Tin Mừng nhắc nhở chúng ta đừng coi thường sự hiện diện của Thiên Thần Bản Mệnh, vì các ngài chính là những người bạn đồng hành trung thành được Chúa sai đến để gìn giữ và bảo vệ chúng ta.

Thiên Thần Bản Mệnh không chỉ bảo vệ ta khỏi những nguy hiểm, mà còn giúp chúng ta không đi lạc đường. Trên hành trình đức tin, đôi khi chúng ta bị cuốn vào vòng xoáy của đời sống thế tục, bị những lợi ích trước mắt lôi kéo, dễ dàng quên đi mục tiêu cuối cùng là cuộc sống vĩnh cửu với Chúa. Giống như những chiếc la bàn tinh thần, các thiên thần giúp chúng ta điều chỉnh hướng đi của mình khi ta bắt đầu lạc lối.

Chúa Giêsu cũng khẳng định rằng các thiên thần không chỉ là người bảo vệ chúng ta mà còn là những chiếc cầu nối giữa chúng ta và Thiên Chúa. Các ngài không chỉ ở bên cạnh chúng ta mà còn luôn nhìn thấy Thiên Chúa Cha, mang lại cho chúng ta sự an ủi và bảo đảm rằng chúng ta luôn được quan tâm và yêu thương từ trời cao.

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa vì đã ban cho chúng con những Thiên Thần Bản Mệnh để gìn giữ, bảo vệ và hướng dẫn chúng con trên đường đời. Xin cho mỗi trưởng gia đình chúng con luôn biết lắng nghe và trân trọng sự hiện diện của các ngài, để chúng con không lạc đường và luôn tiến bước trên hành trình đức tin. Chúng con xin dâng lên Chúa lời cầu nguyện này, nhờ lời chuyển cầu của các Thiên Thần Bản Mệnh. Amen.

* Gợi ý suy gẫm và chia sẻ:

1- Tôi có thực sự tin tưởng và cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Thần Bản Mệnh trong cuộc sống của mình chưa?

2- Làm thế nào tôi có thể lắng nghe và để cho Thiên Thần Bản Mệnh hướng dẫn tôi vượt qua những khó khăn trong đời sống đức tin?

III- CẦU NGUYỆN CHO CÁC THÀNH VIÊN MỚI QUA ĐỜI:

1- Giuse Lê Văn Chung - Nhà xứ Tiên Lục

2- Đa Minh Nguyễn Đức Sang - Nhà xứ Tiên Lục

3- Giuse Nguyễn Đức Dinh - Nhà xứ Tiên Lục

4- Inhaxiô Nguyễn Văn Lực - Nhà xứ Mỹ Lộc

5- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Tạo - Nhà xứ Núi Ô

6- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Ái - Nhà xứ Núi Ô

7- Phêrô Vũ Quang Long - Nhà xứ Nam Viên

8- Giuse nguyên văn Tải - Nhà xứ Xuân Hòa

9- Phanxicô Xaviê Đỗ Văn Đệ - Nhà xứ Thường Lệ

10- Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Lan - Họ Lưỡng Quán 1, xứ Trung Xuân.

11- Giuse Trịnh Văn Tiến - Nhà xứ Đồng Chương

12- Giuse Trần Văn Chỉnh - Nhà xứ Thống Nhất

13- Giuse Đàm Văn Quế - Nhà xứ Hoà Loan

IV- HỌC TẬP: GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

ĐỨC TIN CÁ NHÂN VÀ CỘNG ĐOÀN

Không ai có thể tự ban tặng sự sống cho mình và cũng không ai có thể sống một mình, nhưng người ta đón nhận sự sống từ người khác và sống luôn luôn là sống với. Đức tin cũng thế. Một đàng, đức tin là hành vi cá nhân hiểu như lời đáp trả tự do của mỗi người trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Nhưng đàng khác, đức tin là một quà tặng được đón nhận và đến lượt mình phải trao ban cho người khác. Hội Thánh chính là người mẹ trao ban đức tin cho ta. Vì thế, khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy, thừa tác viên hỏi "Con xin gì cùng Hội Thánh Chúa?", người lãnh nhận trả lời "Con xin đức tin... Đức tin mang lại cho con sự sống đời đời" (Sách Nghi Thức Rôma). Và cũng như người mẹ sinh ra con, phải dạy con nói, nhờ đó có thể hiểu biết và tiếp cận thế giới chung quanh. Cũng vậy, Hội Thánh sinh ta ra trong đức tin, đồng thời dạy ta ngôn ngữ đức tin để giúp ta hiểu và đón nhận sự sống đời đời. Những chân lý đức tin mà người mẹ Hội Thánh trao ban và dạy dỗ không phải là những công thức vô hồn, nhưng là phương thế giúp ta đạt đến chính Thiên Chúa và ơn cứu độ muôn đời. Và bởi vì "Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người. Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người" (Ep 4,5-6), nên xuyên qua mọi không gian và thời gian, trong nhiều nền văn hóa khác nhau và bằng nhiều ngôn ngữ của các dân tộc. Hội Thánh chỉ tuyên xưng một đức tin duy nhất.


                          Lm. Đặc trách HTGĐ GPBN

                           Fx. Nguyễn Văn Huân                     


 
ĐIỀU RĂN THỨ X
CHỚ THAM CỦA NGƯỜI
(x. SGLC từ 2534 đến 2557).
"Ngươi không được ham muốn bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17). "Của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó" (Mt 6,21). Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, cướp đoạt và gian lận. Bổ túc cho đòi hỏi nầy, điều răn thứ mười nhắm đến lòng tham, như nguồn gốc của những tội lỗi trên. Như vậy, cả hai điều răn thứ chín và thứ mười nhắm đến ý hướng trong lòng, và tóm kết tất cả các giới răn.


I. Ham muốn bất chính.

Ai đói cũng thèm ăn, ai lạnh cũng mong được sưởi ấm. Ở tự nó, những ham muốn nầy là tốt, vì giúp bảo vệ sự sống. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy con người không giữ được mức độ hợp lý trong những ham muốn nầy. Vì không giữ được mức độ hợp lý nên sinh ra tham lam và ghen tị. Tham lam: là ham mê của cải, và thế lực do của cải đem lại; từ đó có thể làm điều bất công hại đến tài sản người khác. Kinh Thánh còn ghi lại câu chuyện về một người giàu, tuy có vô số chiên cừu, nhưng lại đi bắt con chiên duy nhất của người nghèo để làm tiệc đãi khách (x.2Sm 12,1-4). Cuộc sống hôm nay vẫn đầy dẫy những con người tham lam như thế: những nhà buôn mong hàng hóa khan hiếm và đắt đỏ, những kẻ mong người khác gặp hoạn nạn để thu lợi... Ghen tị: là buồn phiền khi thấy người khác có của cải và ước ao chiếm đoạt. Thánh Âu Tinh coi ghen tị là tội quỉ quái nhất, vì "ghen tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành". Thánh Gioan Kim Khẩu nói quyết liệt hơn: "Chúng ta đấm đá nhau chỉ vì ghen tị... Nếu mọi người đều xâu xé nhau như vậy thì thân thể Chúa Kitô sẽ ra sao? Chúng ta đang làm tan nát Thân Thể Chúa Kitô".

II. Để vượt qua những ham muốn bất chính.

1. Điều chỉnh những ước muốn:

Ở tự nó, ước muốn không phải là điều xấu. Vấn đề là phải điều chỉnh những ước muốn cho đúng đắn. Phải cảnh giác trước sự quyến rũ của những thực tại "ăn thì ngon, trông đẹp mắt và đáng quý" (St 3,6), nhưng lại ẩn chứa bên trong nọc độc của tội lỗi và sự chết. Điều mà người Kitô hữu phải ước muốn là sự toàn thiện, và đặt mình trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Vì thế, Thánh Phaolô nói người tín hữu là người "đã đóng đinh xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê" (Gl 5,24), và ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh Thần (x.ra 8,27).

2. Sống tinh thần nghèo khó:

Mối phúc đầu tiên được Đức Giêsu công bố là "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt 5,3), và Ngài thường xuyên cảnh giác con người trước mối nguy hiểm của tiền bạc (x.Lc 6,24). Sống tinh thần nghèo khó là chọn Chúa làm gia nghiệp của mình, đặt Chúa trên hết mọi sự, và vì thế saün sàng từ bỏ mọi sự vì Đức Giêsu và vì Tin Mừng (x.Mc 8,35). Nhờ đó, trong cuộc sống hằng ngày, người tín hữu "điều khiển tâm tình cho đúng đắn, để việc sử dụng của cải trần gian và lòng quyến luyến sự giàu sang nghịch với tinh thần khó nghèo của Tin Mừng không cản trở họ theo đuổi đức ái trọn hảo (GH 42).

Biết ao ước hạnh phúc đích thực, ta được giải thoát mọi ràng buộc bất chính với của cải trần thế. Và cuối cùng, được chiêm ngắm nhan thánh Chúa và hưởng hạnh phúc bên Ngài

 Bài 19 

CÁC ÐẶC TÍNH CỦA HỘI THÁNH
(x. SGLC từ 0811 đến 0865)

"Ðức Giêsu nói với Phêrô: Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Ðá, trên Tảng Ðá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi" (Mt 16,18). Hội Thánh tiên khởi đã dùng bốn đặc tính được tuyên xưng trong kinh Tin Kính để tự phân biệt với các giáo phái khác. Bốn đặc tính đó là: Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền (x.GH 8). Những đặc tính nầy là hồng ân Chúa Thánh Thần thông ban và chỉ có thể hiểu biết trọn vẹn nhờ đức tin.

I. Hội Thánh duy nhất.

1. Ý nghĩa:

  • Hội Thánh duy nhất trước hết là do nguồn gốc sâu xa của Hội Thánh. Nguồn gốc đó là Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi. Vì Thế "Hội Thánh xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (GH 4).
  • Thứ đến, Hội Thánh duy nhất là do Ðấng sáng lập, Ðức Giêsu Kitô "đã cùng Thập giá để hòa giải mọi người với Thiên Chúa, đã tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể" (MV 78).
  • Cuối cùng, Hội Thánh duy nhất là do Chúa Thánh Thần tác động. Ngài "thực hiện sự thông hiệp kỳ diệu giữa các tín hữu, và liên kết tất cả trong Chúa Kitô cách mật thiết đến nỗi Ngài chính là nguyên lý hiệp nhất của Hội Thánh" (HN 2).


Trên nền tảng đó, Hội Thánh duy nhất vì cùng tuyên xưng một đức tin được đón nhận từ các tông đồ, cùng cử hành một nghi lễ phụng thờ Thiên Chúa và cùng hòa hợp trong tình huynh đệ của gia đình Thiên Chúa (x.HN 2). Chúa Kitô là dấu chỉ hữu hình của sự duy nhất nầy, đồng thời "Ngài đã đặt Phêrô làm Thủ Lãnh các tông đồ và nơi Phêrô, Ngài đã đặt nguyên lý cùng nền tảng vĩnh cửu và hữu hình cho sự hiệp nhất và hiệp thông đức tin" (GH 18).

2. Trách nhiệm xây dựng sự hiệp nhất:

Chúa Kitô chỉ thiết lập một Hội Thánh duy nhất. Tuy nhiên, trong dòng lịch sử, người ta lại chứng kiến tình trạng chia rẽ giữa các Kitô hữu và đây là gương xấu rất lớn trước mặt thế gian. Những rạn nứt chính thức trong sự hiệp nhất của Hội Thánh gồm có:

  • Lạc giáo: cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ về một chân lý phải tin.
  • Bội giáo: chối bỏ toàn diện đức tin Kitô giáo.
  • Ly giáo: từ chối sự tùng phục Ðức Giáo Hoàng hay từ chối sự hiệp thông với các phần tử của Hội Thánh đang thụ quyền Ngài (x.GL 751).


Thể theo nguyện vọng của Ðức Giêsu, Ðấng tha thiết cầu nguyện cho các tín hữu được nên một (x.Ga 17,21), người Kitô hữu phải nỗ lực phục hồi sự hiệp nhất giữa các Hội Thánh Kitô. Chúng ta gọi đó là nỗ lực đại kết. Công Ðồng Vaticanô II thừa nhận các Kitô hữu không công giáo "vì được công chính hóa nhờ đức tin và được tháp nhập vào Chúa Kitô khi chịu Phép Rửa, nên có quyền mang danh Kitô hữu và xứng đáng được con cái trong Hội Thánh Công Giáo nhìn nhận là anh em" (HN 3). Ðây là trách nhiệm của toàn thể Hội Thánh, tín hữu cũng như chủ chăn (x. HN 5). Sự hiệp nhất đó chỉ có thể có được nhờ canh tân Hội Thánh, hoán cải tâm hồn, cầu nguyện chung, hiểu biết lẫn nhau, cộng tác và đối thoại (x.HN 7).

II. Hội Thánh Thánh Thiện.

1. Nền tảng.

Hội Thánh được tuyên xưng là thánh thiện vì "Chúa Kitô đã yêu thương Hội Thánh như hiền thê mình và đã hiến thân để thánh hóa Hội Thánh. Người kết hợp với Hội Thánh như thân thể Người và ban cho dư đầy ơn Thánh Thần" (GH 39).

Thứ đến, vì Thánh Thần ban cho Hội Thánh dồi dào phương tiện cứu rỗi và sự thánh thiện, đó là việc rao giảng Tin Mừng, các bí tích, các nhân đức luân lý, lòng hy sinh phục vụ tha nhân và các đặc sủng (x.GH 48).

Cụ thể hơn, sự thánh thiện của Hội Thánh đã chiếu tỏa ra nơi vô số các vị thánh đã được tuyên phong và trở thành những gương mẫu cho đời sống thánh thiện.


2. Cuộc lữ hành đức tin.

Sự thánh thiện của Hội Thánh là một hành trình tăng trưởng, một cuộc "lữ hành Vượt Qua", chứ không phải là tình trạng tĩnh tọa an toàn. Vì thế, Hội Thánh vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh tẩy mình, và không ngừng theo đuổi con đường sám hối, canh tân (x.GH 8). Các Kitô hữu luôn được khuyên nhủ "Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thực sự sống công chính và thánh thiện" (Ep 4,22-24). Ðiều nầy chứng tỏ "tất cả chúng ta thường hay vấp ngã" (Gc 3,2) và cần đến ơn tha thứ của Thiên Chúa (x.GH 8). Ðồng thời cũng có nghĩa là mọi người trong Hội Thánh đều được mời gọi nên Thánh, và Ðức Ái là tâm điểm của đời sống thánh thiện "Tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của Ðức Ái" (GH 40) vì "Ðức Ái là mối dây liên kết của sự trọn lành, là sự viên mãn của lề luật, nên Ðức Ái chi phối mọi phương thế nên thánh, làm cho chúng hình thành và đạt đến cùng đích. Vì thế, Ðức Ái đối với Thiên Chúa và tha nhân là dấu chỉ người môn đệ chân chính của Chúa Kitô" (GH 42).

III. Hội Thánh Công Giáo

1. Ý nghĩa

Từ "công giáo" ở đây có nghĩa là phổ quát, bao gồm tất cả, toàn thể, và được áp dụng cho Hội Thánh theo hai hướng: Hội Thánh mang tính công giáo vì Chúa Kitô hiện diện trong Hội Thánh, và vì có Chúa Kitô hiện diện, nên nơi Hội Thánh có "đầy đủ phương tiện cứu rỗi" (TG 6). Ðồng thời Hội Thánh là công giáo vì Hội Thánh được Chúa Kitô sai đến với toàn thể nhân loại (x. Mt 28,19).

Mỗi Giáo Hội địa phương đều mang đặc tính công giáo, vì "Hội Thánh Chúa Kitô thực sự hiện diện trong mọi đoàn thể tín hữu địa phương hợp pháp... Chúa Kitô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mác khắp nơi. Và nhờ thần lực của Người, Hội Thánh hiệp thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" (GH 26). Ðặc tính công giáo nầy được thể hiện cách hữu hình và hoàn hảo qua việc các Giáo Hội địa phương hiệp thông với Hội Thánh Rôma.

Tất cả mọi người trên trái đất đều được mời gọi vào sự hiệp nhất công giáo của Hội Thánh, nhưng "họ thuộc về hay hướng tới sự hiệp nhất đó bằng nhiều thể cách khác nhau" (GH 13). Trước hết là các tín hữu công giáo, tức là những người "gia nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Hội Thánh, những ai lãnh Thánh Thần Chúa Kitô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu rỗi được thiết lập trong Hội Thánh; và nhờ các mối liên lạc do việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, việc cai trị của Hội Thánh và sự hiệp thông, họ liên kết với Chúa Kitô trong tổ chức hữu hình mà Người điều khiển nhờ Ðức Giáo Hoàng và các Giám Mục" (GH 14). Tiếp đến là những anh chị em mang danh Kitô hữu nhưng không tuyên xưng đức tin trọn vẹn, hoặc không hiệp thông với Ðấng kế vị thánh Phêrô (x. GH 15). Sau cùng là những anh chị em chưa lãnh nhận Tin Mừng Chúa Kitô, nhưng "cũng được an bài bằng nhiều cách để thuộc về Dân Thiên Chúa" (GH 16). Hội Thánh quan tâm đặc biệt đến anh chị em Do Thái giáo, tiếp đến là Hồi giáo và sau đó là các tôn giáo khác (GH 16).

Trong khung cảnh của Việt Nam nói riêng và Á châu nói chung, miền đất ghi đậm dấu ấn của nhiều truyền thống tôn giáo lâu đời: Ấn giáo, Phật giáo, Khổng giáo... chúng ta cần mang lấy tâm tình của Hội Thánh hôm nay, tức là "không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó". Bởi vì các tôn giáo đó "cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người" (NK 2). Chính vì thế, "những người vô tình không nhận biết Phúc Âm của Chúa Kitô và Hội Thánh, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn Thánh ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì họ có thể được cứu rỗi". Hơn thế nữa, cả "những ai vô tình chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ ràng, nhưng nhờ ơn Chúa, cố gắng sống đời chính trực, thì Chúa Quan Phòng không từ chối ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu rỗi" (GH 16).

2. Trách nhiệm truyền giáo:

Chính trong ý hướng "công giáo" như đã khai triển, mệnh lệnh truyền giáo xuất hiện với tất cả vẻ thúc bách "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19-20). Mệnh lệnh ấy bắt nguồn cách sâu xa từ chính Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, tình yêu cứu độ muốn đưa tất cả mọi người vào sự hiệp thông giữa CHA và CON trong THÁNH THẦN tình yêu (x.TG 2). Tình yêu ấy trở thành động lực thúc đẩy Hội Thánh dấn mình vào công cuộc truyền giáo như thánh Phaolô tâm sự: "Tình yêu Ðức Kitô thôi thúc chúng tôi" (2Cr 5; 14). Vì nếu Hội Thánh tin vào kế hoạch yêu thương và cứu độ dành cho mọi người, thì Hội Thánh phải là cộng đoàn truyền giáo.

Chúa Thánh Thần là tác nhân chính yếu trong sứ vụ của Hội Thánh. Vì thế, để sứ vụ được hoàn thành. Hội Thánh phải được và phải để cho Thánh Thần đưa dẫn vào nẻo đường Chúa Kitô đã đi: con đường vâng phục và nghèo khó, phục vụ và hy sinh đến độ dám hiến dâng mạng sống, như "hạt lúa gieo vào lòng đất nếu chết đi mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24), và "Máu các Thánh Tử Ðạo là hạt giống nẩy sinh các Kitô hữu". (Tertulianô).

IV. Hội Thánh tông truyền

Hội Thánh là tông truyền theo ba ý nghĩa căn bản:

  • Một là vì Ðức Giêsu thiết lập Hội Thánh kiên vững "trên nền tảng các tông đồ" (Ep 2,20);
  • Hai là vì Hội Thánh bảo vệ và truyền thông sứ điệp và chứng tá của các tông đồ (Mt 28, 19,20).
  • Ba là vì Hội Thánh được giáo huấn, thánh hóa và hướng dẫn nhờ các Ðấng kế vị các tông đồ.


Các Tông đồ được Chúa Phục Sinh sai đi: trước hết đến với con cái Ít-ra-en, rồi đến với mọi dân tộc. Nhờ tham dự vào quyền năng của Chúa Kitô, các ông có thể làm cho muôn dân trở nên môn đệ của Ngài, cùng thánh hóa, lãnh đạo họ, như vậy mở rộng Hội Thánh Ngài ra. Các ông trông nom săn sóc Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Chúa mọi ngày cho đến tận thế (x.Mt 28,20; GH 19).

Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần ở trong mình, Hội Thánh bảo vệ giáo huấn lành mạnh của các tông đồ. Giáo huấn đó làm nên kho tàng phong phú của đức tin (x.2Tm 1, 13-14). Những chân lý nầy được trình bầy rõ ràng và đơn giản trong các lời tiền tụng lễ các Tông đồ: "Cha là Mục Tử hằng hữu, không bỏ rơi đoàn chiên của Cha, nhưng nhờ các Tông Ðồ, Cha vẫn luôn giữ gìn che chở. Cha còn hướng dẫn đoàn chiên đó nhờ các ngài là những vị lãnh đạo Cha đã đặt làm mục tử thay thế Con Cha" (Lời Tiền Tụng các Tông Ðồ I).

Hội Thánh tiếp tục được các Tông Ðồ giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn cho đến khi Ðức Kitô trở lại, nhờ những vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục tử là các giám mục, hiệp nhất với Ðấng kế nhiệm thánh Phêrô là mục tử tối cao của Hội Thánh. "Nhờ những vị các tông đồ đặt làm Giám mục, và nhờ những đấng kế vị các ngài cho tới ngày nay, truyền thống Tông Ðồ được biểu lộ và duy trì trên khắp thế giới" (GH 20).

Chúa Kitô đã đào tạo các Tông đồ theo hình thức cộng đoàn mà Ngài đã đặt Phêrô, một người được chọn giữa các ngài, làm thủ lãnh (x.GH 19). Ngày nay, Ðức Gioan Phaolô II đã quả quyết rằng: "Hội Thánh hôm nay đồng tâm nhất trí hơn trong việc phục vụ và trong ý thức tông đồ. Sự hiệp nhất nầy phát sinh từ nguyên tắc "lập đoàn"... Chính Chúa Kitô đã trao phó nguyên tắc lập đoàn cho nhóm mười hai tông đồ, đứng đầu là Phêrô và Ngài thường xuyên trao lại cho Ðoàn các Giám mục. Giám mục đoàn không ngừng gia tăng trên khắp địa cầu nhưng vẫn hiệp nhất với người kế vị thánh Phêrô và ở dưới sự hướng dẫn của Ngài" (ÐCC 5).

V. Sống trong Hội Thánh

Theo truyền thống, Hội Thánh được miêu tả do bốn đặc tính căn bản: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Mỗi đặc tính nầy vừa là một hồng ân vừa là một nhiệm vụ liên kết Hội Thánh với Chúa Kitô.

1. Là những người bước theo Chúa Kitô, và là chi thể của thân thể Ngài là Hội Thánh, chúng ta được mời gọi hoán cải tâm hồn để thắng vượt những chia rẽ (ăn rễ nơi lạc giáo, hồi giáo, ly giáo), và nhất là thắng vượt những đối lập, những cạnh tranh, những bất hòa làm sứt mẻ sự hiệp thông của Dân Chúa.

2. Sự thánh thiện của Hội Thánh là hành trình tinh luyện để trưởng thành theo tầm vóc sung mãn của Chúa Kitô. Chúng ta hãy sống theo chân lý trong tình bác ái và lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Ðấng là Ðầu, tức là Chúa Kitô, Nhờ Ngài mà toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái (Ep 4,15).

3. Hội Thánh còn là "công giáo"nghĩa là phổ quát, là một hồng ân Thiên Chúa ban vì Hội Thánh được sai đi đem muôn dân về cho Chúa Kitô là Ðầu trong sự hiệp nhất với Thánh Thần của Ngài (x. GH 13). Ðây là một nhiệm vụ, vì tất cả Kitô hữu, không trừ ai, đều được kêu gọi truyền giảng Tin Mừng.

4. Chúa Kitô đã xây Hội Thánh trên nền tảng các Tông đồ (Eph 2,20). Ðặc sủng nầy được tiếp tục để các Giám mục kế vị các Tông đồ. Bản tính tông truyền của Hội Thánh phải được mọi tín hữu thực thi. Họ phải tiếp tục sứ mệnh mà Chúa Kitô đã trao phó cho các Tông đồ.