Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2024

 

Các Loại Áo Linh Mục Mặc Khi Cử Hành Thánh Lễ

Các Loại Áo Lễ: Áo Lễ là áo dành riêng cho các Linh Mục mặc khi cử hành Thánh Lễ. Áo lễ có nhiều màu khác nhau và được dùng trong mùa Phụng Vụ theo truyền thống trong Giáo Hội.

Màu ÁoÝ Nghĩa
Áo Trắng:
(white) 

Áo Trắng

Áo Trắng: Chỉ sự tinh truyền thanh khiết, thánh thiện và chiến thắng. Áo trắng được dùng trong các mùa sau:

– Mùa Giáng Sinh
– Mùa Phục Sinh
– Các Lễ về Chúa – trừ Chúa Nhật Lễ Lá và Thứ Sáu Tuần Thánh
– Các Lễ về Đức Mẹ
– Các Lễ về các Thiên Thần, các Thánh không tử đạo, các Thánh Nam Nữ.

Áo Ðỏ:
(red) 

Áo Ðỏ

Áo Ðỏ: Chỉ lòng mến yêu, sự hy sinh đến chết vì Chúa, hiến dâng cuộc sống cho Thiên Chúa. Áo đỏ được dùng trong các Thánh Lễ sau:

– Chúa Nhật Lễ Lá
– Thứ Sáu Tuần Thánh
– Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
– Lễ các Thánh Tông Đồ và Thánh Sử – trừ Thánh Gioan Tông Đồ và Lễ Thánh Tử Đạo.

Áo Xanh:
(green) 

Áo Xanh

Áo Xanh: Chỉ sự vui tươi, nhiệt thành và hy vọng. Áo xanh được dùng trong:

– Mùa Thường Niên

Áo Tím:
(violet) 

Áo Tím

Áo Tím: Chỉ sự ăn năn, thống hối. Áo tím được dùng trong:

– Mùa Vọng
– Mùa Chay
– Các Lễ cầu hồn

Áo Hồng:
(pink) 

Áo Hồng

Áo Hồng: Chỉ niềm vui trước kỳ hạn của màu thống hối. Áo hồng được dùng trong:

– Chúa Nhật thứ ba mùa Vọng
– Chúa Nhật thứ tư mùa Chay

 GIÁO PHẬN BẮC NINH

GIÁO XỨ TÂN CƯƠNG

Bài 3+4
 Đón Nhận Lời Chúa Và Thiên Chúa 
Tạo Dựng Trời Đất Muôn Vật 
Tìm Hiểu Giáo Lý Dự Tòng









Giáo Lý Dự Tòng Bài 1+2



 

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2023

 Lớp giáo lý Giáo xứ tân cương khóa 47 
khai giảng 25/06/2023
đã kết thúc khóa học 8/10/2023
Tạ  ơn Thiên Chúa, Được sự giúp đỡ Cha xứ Vicen-tê Nguyễn Văn Thuyên, và BHG cùng các Thầy đã quan tâm cùng hiệp thông tạo điều kiện cho các anh chị học giáo lý được trọn vẹn. 








 

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023

 

                                           THỨ TƯ LỄ TRO: NHỮNG CÂU HỎI ĐÁP

                                                                                                 20 / 02/ 2023,         04:02:29

 Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro là gì?

Đáp: Thứ Tư Lễ Tro là ngày bắt đầu Mùa Chay, cách Thứ Sáu Tuần Thánh 40 ngày.

Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro có dựa trên một lễ hội ngoại giáo không?

Đáp: Không. Thứ Tư Lễ Tro bắt nguồn từ những năm 900 Công nguyên, rất lâu sau khi Châu Âu đã được Kitô giáo hóa và các phụng thờ ngoại giáo bị dập tắt.

Hỏi: Tại sao gọi là Thứ Tư Lễ Tro?

Đ: Thực ra, Thứ Tư Lễ Tro là tên thông dụng. Tên chính thức của nó là “Ngày của tro” (Dies Cinerum). Nó được gọi là “Thứ Tư Lễ Tro” vì bốn mươi ngày trước Thứ Sáu Tuần Thánh luôn rơi vào Thứ Tư đồng thời vào ngày đó các tín hữu sẽ bôi tro lên trán theo hình thánh giá.

Hỏi: Tại sao xức tro dấu thánh giá trên trán?

Đáp: Vì trong Kinh thánh, đánh dấu trên trán tượng trưng cho quyền sở hữu của một người. Khi ghi dấu thánh giá trên trán, điều này nói lên rằng người đó thuộc về Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết trên Thánh giá.

Đây cũng là điều bắt chước dấu ấn thiêng liêng hay ấn tín được ghi trên một Kitô hữu trong bí tích rửa tội, khi được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và ma quỷ, trở thành nô lệ của sự công bình và Đức Kitô (Rm 6,3-18).

Đây cũng là bắt chước cách mà sự công chính được mô tả trong sách Khải huyền nói về các tôi tớ của Thiên Chúa (các Kitô hữu được tượng trưng bởi 144.000 nam nhân):

“Xin đừng phá hại đất liền, biển cả và cây cối, trước khi chúng tôi đóng ấn trên trán các tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta” (Kh 7,3)

"Chúng bị cấm không được phá hại cỏ trên mặt đất, mọi loài xanh tươi và mọi cây cối, mà chỉ được phá hại những người không mang ấn của Thiên Chúa trên trán" (Kh 9,4)

“Tôi thấy: kìa Con Chiên đứng trên núi Xion; cùng với Con Chiên, có một trăm bốn mươi bốn ngàn người, mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên ghi trên trán” (Kh 14,1)

Đây là điều ngược lại với những người theo con thú, những người có số 666 trên trán hoặc trên tay.

Tham chiếu đến việc ghi ấn các tôi tớ của Thiên Chúa để bảo vệ họ trong sách Khải Huyền là ám chỉ đến một đoạn song song trong sách Êzekien, nơi có các tôi tớ Thiên Chúa được đóng ấn để bảo vệ họ:

"Hãy rảo khắp thành, khắp Giêrusalem. Hãy ghi dấu chữ thập trên trán (nghĩa đen là một dấu chữ “tav”) những người đang rên siết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xảy ra trong khắp thành." Tôi lại nghe Đức Chúa phán với năm người kia: "Hãy đi theo người ấy vào thành mà chém giết. Đừng nhìn mà thương hại, đừng xót thương. Người già, thanh niên, thiếu nữ, cũng như đàn bà con trẻ, các ngươi hãy giết cho sạch; nhưng tất cả những ai mang dấu trên mình, các ngươi chớ đụng đến. Các ngươi sẽ bắt đầu từ Nơi Thánh của Ta." Và họ đã bắt đầu từ đàn ông, từ người già ở trước Đền Thờ” (Êd 9, 4-6).

Rủi thay, các bản dịch hiện đại đều không ghi đoạn này theo nghĩa đen. Thực sự câu này muốn nói là ghi một dấu chữ “tav” trên trán của những người công chính ở Giêrusalem. Chữ “tav” là một trong những chữ cái của bảng chữ cái tiếng Do Thái và trong chữ viết cổ, nó trông giống như chữ cái “chi” trong tiếng Hy Lạp, là hai gạch “chéo” (giống như chữ "x") và là chữ cái đầu tiên trong từ "Christ" (Kitô) trong tiếng Hy Lạp là “christos” (Χριστός). Các rabbi Do Thái đã giải thích về mối liên hệ giữa “tav” và “chi” và chắc chắn đây là dấu ấn mà sách Khải Huyền muốn nói đến khi các tôi tớ của Thiên Chúa được ghi dấu ấn.

Các Giáo phụ sơ thời đã nắm bắt mối liên hệ giữa “tav-chi”- thập giá – “christos” này và giải thích nó trong các bài giảng của mình, nhìn thấy ở Êzekien một điềm báo tiên tri về việc các Kitô hữu được ghi dấu ấn để làm tôi tớ của Đức Kitô. Đây cũng là một phần nền tảng của tục làm dấu thánh giá nơi người Công giáo, mà trong những thế kỷ đầu (như được ghi chép lại từ thế kỷ thứ hai trở đi) đã được thực hành bằng cách dùng ngón tay cái làm một dấu thánh giá nhỏ trên trán, như người Công giáo làm ngày nay khi đọc Tin Mừng trong Thánh lễ.

Hỏi: Tại sao làm dấu với tro?

Đáp: Bởi vì tro là biểu tượng Kinh Thánh nói về sự than khóc và sám hối. Trong thời Kinh thánh, có phong tục nhịn ăn, mặc áo vải gai, ngồi trong đống tro, và rắc tro lên đầu. Bình thường thì không ai mặc áo gai hay ngồi trong đống tro, nhưng tập tục ăn chay và rắc tro lên trán như một dấu hiệu của sự đau buồn và sám hối vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Đây là hai trong số những điểm chính của Mùa Chay. Thực tế, Thứ Tư Lễ Tro không chỉ là ngày xức tro trên đầu mà còn là ngày ăn chay.

Hỏi: Có ví dụ nào trong Kinh thánh về những người xức bụi tro lên trán?

Đáp: Có những trường hợp sau đây:

“Một người thuộc chi tộc Bengiamin từ mặt trận chạy về, và ngay hôm đó tới Silô, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất” (1 Sm 4, 12)

"Sang ngày thứ ba, có một người từ trại, từ bên vua Saun đến, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. Khi đến gần ông Đavít, anh ta sấp mình xuống đất và sụp lạy" (2 Sm 1, 2)

"Tamar lấy tro bụi rắc lên đầu, xé cái áo chùng dài tay cô đang mặc, đặt tay lên đầu, vừa đi vừa kêu la" (2 Sm 13, 19)

“Khi vua Đavít lên tới đỉnh, nơi người ta thờ lạy Thiên Chúa, thì này ông Khusai, người Ácki, đón gặp vua, áo chùng ông xé rách, đầu thì rắc đất” (2 Sm 15, 32)

Hỏi: Tro còn có ý nghĩa nào khác?

Đáp: Có. Chúng cũng tượng trưng cho cái chết và do đó nhắc nhở chúng ta về tính phải chết của mình. Thế nên, khi vị linh mục dùng ngón tay cái ghi dấu bằng tro cho một tín hữu, ông nói: "Hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về tro bụi", như Thiên Chúa nói với ông Ađam (Stk 3, 19; xem G 34,15, Tv 90,3, 104,29, Gv 3,20). Điều này cũng lặp lại những lời trong lễ an táng, "Tro bụi trở về với tro bụi", dựa trên lời Thiên Chúa nói với ông Ađam trong Sáng thế ký 3 và lời thú nhận của Ápraham, " Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi" (Stk 18, 27). Do đó, đây là lời nhắc nhở về cái chết của chúng ta và nhu cầu phải hối cải trước khi cuộc sống này qua đi và chúng ta đối mặt với vị Thẩm Phán của mình.

Hỏi: Tro được sử dụng vào Thứ Tư Lễ Tro đến từ đâu?

Đ: Từ tro của những lá cọ đã được giữ lại từ Chúa Nhật Lễ Lá của năm trước, sau đó chúng được linh mục làm phép - tro được làm phép đã được sử dụng trong các nghi lễ của Thiên Chúa từ thời Môisê (Ds 19, 9-10, 17 ).

Hỏi: Tại sao lại là tro của Chúa Nhật Lễ Lá năm trước?

Đáp: Vì vào Chúa Nhật Lễ Lá, dân chúng chào mừng sự khải hoàn của Chúa Giêsu khi tiến vào thành Giêrusalem. Họ mừng Ngài bằng cách vẫy những chiếc lá cọ, không nhận ra rằng Ngài đến để chịu chết vì tội lỗi của họ. Khi sử dụng những cành lá từ Chúa Nhật Lễ Lá, đó là một lời nhắc nhở rằng chúng ta không chỉ vui mừng về việc Ngài đến nhưng còn phải hối tiếc rằng tội lỗi của chúng ta đã khiến Ngài phải chết thay để cứu chúng ta khỏi địa ngục.

Hỏi: Có đòi buộc các tín hữu phải xức tro lên trán không?

Đáp: Không, điều này không bắt buộc nhưng được khuyến khích mạnh mẽ vì đây là một lời nhắc thiêng liêng phù hợp và hữu hình, khích lệ người ta nhận lấy thái độ cầu nguyện, ăn năn và khiêm nhường. Như Thánh Giacôbê đã nói: “Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên” (Gc 4, 10).

Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro có phải là một ngày lễ buộc, nghĩa là phải dự Thánh lễ?

Đáp: Không, đây không phải là ngày lễ buộc. Tuy nhiên, điều này được khuyến khích vì thích hợp để đánh dấu khởi đầu của Mùa Chay sám hối bằng cách tham dự Thánh lễ. Việc thờ phượng Thiên Chúa cách trang trọng, cùng với cộng đoàn, là một cách tốt đẹp để bắt đầu mùa Chay. Ngoài ra, mặc dù đó không phải là ngày bắt buộc, nhưng đó là ngày ăn chay và kiêng thịt.

Hỏi: Tại sao Thứ Tư Lễ Tro không phải là ngày lễ buộc?

Đáp: Lễ buộc là ngày kỷ niệm các biến cố đặc biệt (chẳng hạn như sự sinh hạ của Đức Kitô hoặc dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh), những người đặc biệt (chẳng hạn như người cha trần thế của Đức Giêsu là Thánh Giuse), hoặc các khái niệm thần học quan trọng (như Vương quyền của Chúa Kitô). Thứ Tư Lễ Tro không kỷ niệm bất kỳ biến cố nào (không có gì đặc biệt xảy ra bốn mươi ngày trước khi bị đóng đinh - ít nhất là chúng ta không biết gì về điều đó), và có thể là gián tiếp tưởng niệm một Ngôi vị (Chúa Kitô) vì đây là  bước khởi đầu để chuẩn bị các cử hành lớn hơn về trong công cuộc cứu độ của Đức Kitô sau đó, và mặc dù Thứ Tư Lễ Tro là ngày thống hối (giống như tất cả các ngày khác của Mùa Chay trừ Chúa Nhật, là những ngày lễ trọng bất kể thời điểm nào trong lịch phụng vụ vì là kỷ niệm sự phục sinh của Đức Kitô), Giáo hội không bao giờ chọn ngày này hay bất cứ ngày nào khác để làm ngày tưởng niệm về sự thống hối.

Tác giả: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính Chuyển ngữ từ: catholicshield.wordpress.com (07.02.2013)
Nguồn: gpquinhon.org (19.02.2023)

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

 1. Làm sao chúng ta nhận biết được Thiên Chúa?

a. Dựa vào trật tự trong vũ trụ, vào khát vọng chân chính. b. Dựa vào tôn giáo, cách riêng đạo Công Giáo. c. Dựa vào Triết học và Khoa học. d. Đáp án a và b 2. Thiên Chúa tỏ mình ra cho loài người thông qua cách thức nào? a. Chỉ duy nhất Kinh Thánh. b. Qua Giáo lý Công giáo. c. Qua nhiều cách thức nhưng rõ nhất là Kinh Thánh. d. Qua lời kể của các thánh. 3. Bạn phải đón nhận Kinh Thánh trong tâm tình nào? a. Của người con ngoan thảo. b. Của người bạn chân thành. c. Vui mừng, tạ ơn và ước muốn được dạy dỗ. d. Có những câu nói hay và thú vị. 4. Bạn phải đọc Thánh Kinh thế nào? a. Như là cuốn lịch sử của dân Chúa. b. Đọc trong đức tin với tâm tình khiêm tốn đơn sơ. c. Theo sự hướng dẫn của Hội Thánh, trong ước muốn được dạy dỗ và sẵn sàng thực hiện điều Chúa dạy. d. Câu b và c đúng 5. Trong các loài Chúa dựng nên có 2 loài cao trọng hơn cả là: a. Thánh Thần và loài người. b. Thiên Thần và loài người. c. Thiên Sứ và loài người. d. Ma quỷ và loài người. 6. Lễ Giáng Sinh là lễ: a. Của người Do Thái. b. Người Kitô hữu mừng kỉ niệm Chúa Giêsu sinh ra ở Belem trong nước Do Thái. c. Lễ hội của toàn thế giới. d. Lễ thần Mặt Trời. 7. Ai là Sứ thần truyền tin cho Đức Maria chịu thai Chúa Giêsu bởi phép Đức Chúa Thánh Thần: a. Thiên thần Mi-ca-e. b. Thiên thần Gáp-ri-en. c. Thiên thần Ra-pha-en. d. Thiên thần Lu-xi-phe. 8. Gia đình Na-gia-rét gồm có : a. Thánh Giuse, Đức Maria và Chúa Giêsu. b. Thánh Giuse, Đức Maria và Thánh Gioan - môn đệ Chúa yêu. c. Chúa Giêsu và những người nghe, tuân giữ Lời Chúa. d. Chúa Giêsu và 12 thánh Tông đồ. 9. Trước khi đi rao giảng nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu: a. Là một Hoàng tử của nước Do Thái. b. Được Chúa Thánh Thần dẫn vào sa mạc ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày. c. Chịu ma quỷ cám dỗ và đã toàn thắng. d. Đáp án b và c. 10. Trong ba nhân đức Tin Cậy Mến: a. Đức Tin giúp ta phó thác đời mình vào Chúa và thực hành những điều Chúa và Hội Thánh dạy. b. Đức Cậy nhờ công nghiệp ta hy vọng vững chắc: với ơn ban đủ để ta sống xứng là con Thiên Chúa ở đời này và đời sau được hưởng hạnh phúc vô cùng. c. Đức Mến giúp ta mến Chúa hết lòng và yêu tha nhân như Chúa yêu ta. d. Tất cả đều đúng 11. Trong 3 nhân đức Tin Cậy Mến nhân đức nào còn tồn tại mãi khi ta được hưởng phúc Thiên đàng? a. Tin. b. Cậy. c. Mến. d. Không còn nhân đức nào. 12. Phép giao có phải là Bí tích không? a. Phải. b. Không phải. c. Tùy từng trường hợp. 13. Nếu tôi là người Công giáo đã làm phép cưới ở Nhà thờ, nay bị bạo hành (hoặc lừa dối, nghiện ngập,…) và đã li dị, thì tôi có được phép cưới người khác bằng phép giao không? a. Có. b. Không. c. Tùy trường hợp. 14. Mục đích của Hôn nhân Công giáo là gì? a. Trọn đời yêu thương nhau. b. Không được phép li dị . c. Sinh sản và giáo dục con cái cùng giúp nhau nên thánh. d. Đáp án a và c. 15. Giáo dục con cái theo Đức tin Công giáo là thế nào? a. Cho ăn uống đầy đủ, học hành tử tế. b. Hướng dẫn và giúp chúng phát triển toàn diện về thể lý, trí tuệ, đức hạnh và tôn giáo. c. Yêu cầu con cái đi lễ, đọc kinh đầy đủ, nếu không nghe lời sẽ phạt. d. Chỉ được phép yêu và lấy người Công giáo. 16. Tôi đang ly thân vì bạn đời của tôi ngoại tình, vậy tôi có Rước lễ không? a. Không được phép, vì ly thân là mắc tội trọng. b. Được phép, miễn là bạn đã xưng tội trước đó. c. Phải viết đơn xin Tòa giám mục và chờ quyết định cho phép mới được Rước lễ. d. Phải xin đặc ân thánh Phê-rô của Tòa thánh mới được Rước lễ. 17. Lời Chúa rất cần thiết cho đời sống Hôn nhân và gia đình bởi vì? a. Lời Chúa là Lời Tình yêu. b. Lời Chúa ban sự sống. c. Lời Chúa biểu lộ ý muốn của Thiên Chúa. d. Tất cả các đáp án trên. 18. Đặc ân thánh Phê-rô trong Hôn nhân Công giáo là gì? a. Cho phép một người Công giáo được li dị khi bạn đời ngoại tình, bạo hành, nghiện ngập… b. Tiêu trừ hôn nhân giữa những người không Công giáo hoặc ít là một trong hai người không phải là người Công Giáo vì lợi ích đức tin của tín hữu và vì ơn cứu độ cho các linh hồn, với năng quyền do Đức Thánh Cha ban. c. Tiêu trừ hôn nhân giữa những hai người Công giáo vì lợi ích đức tin của tín hữu và vì ơn cứu độ cho các linh hồn, với năng quyền do Đức Thánh Cha ban. d. Cho phép một người Công giáo đã từng li dị được lấy một người ngoại giáo. 19. Điều kiện nào để được hưởng đặc ân thánh Phê-rô? a. Đáp ứng các điều 1148, 1149 và 1150 của Giáo lý Công giáo về giải gỡ hôn phối. b. Đáp ứng 11 điều của Tổng Giáo Phận New Orleans, Mỹ gợi ý. c. Lỗi li dị người cũ không phải do phía người này và người định phối ngẫu gây ra. d. Tất cả các đáp án trên. 20. Thế nào là kết hôn thành sự? a. Hai bên đã Rửa tội hoặc được ban Phép chuẩn. b. Đủ tuổi theo Giáo luật và Pháp luật. Hai người ý thức, đầy đủ tự do ưng thuận lấy nhau. c. Hôn phối được cử hành theo nghi thức Giáo hội và không mắc ngăn trở theo Giáo luật. d. Tất cả các điều trên.

 

  1. Bí Tích là dấu bề ngoài Ðức Chúa Giêsu đã lập để ban ơn bề trong cho ta.
  2. Ðể trở thành một bí tích cần phải có 3 điều kiện:
    • Phải do Chúa Giêsu Lập.
    • Dấu bề ngoài (Mô thể – Chất thể).
    • Ơn bề trong.
  3. Có 7 phép Bí Tich: Rửa Tội, Thêm Sức, Mình Thánh Chúa, Giải Tội, Xức Dầu Thánh, Truyền Chức Thánh, và Hôn Phối.
  4. Bí Tích được chia làm 3 loại:
    • Khai Tâm: Rửa Tội, Thêm Sức, Mình Thánh Chúa (Bắt đầu cuộc sống Kitô hữu).
    • Hoà Giải: Giải Tội và Xức Dầu Thánh.
    • Ơn Gọi: Truyền Chức Thánh và Hôn Phối.
  5. Bí Tích khai tâm nghĩa là qua các bí tích khai tâm, con người trở thành phần tử của Giáo Hội trong cùng một cộng đoàn đức tin, sống đúng theo tinh thần Chúa Kitô.
  6. Bí Tích Rửa Tội, Thêm Sức, và Mình Thánh Chúa được gọi là bí tích khai tâm vì:
    • Bí Tích Rửa Tội: Làm cho ta trở thành người Kitô hữu mới và được chia sẻ sự sống với Chúa Kitô.
    • Bí Tích Thêm Sức: Chúng ta được mời gọi lên trong đức tin và làm chứng nhân cho Chúa Kitô bằng lời nói và việc làm của chúng ta.
    • Bí Tích Mình Thánh Chúa: Nhắc nhở sự hiện diện của Chúa Kitô luôn ở với chúng ta, cùng hiệp nhất với Giáo Hội.
  7. Mục đích của bí tích là:
    • Làm cho con người được thánh thiện.
    • Xây dựng Giáo Hội, là Nhiệm Thể của Chúa Kitô.
    • Ðể tôn kính, thờ lạy Chúa.
  8. Có 3 Bí Tích được chịu một lần là: Rửa Tội, Thêm Sức và Truyền Chức Thánh tại vì 3 Bí Tích này in vào linh hồn ta một dấu thiêng liêng không bao giờ mất được.
  9. Bí Tích Mình Thánh Chúa quan trọng nhất vì bí tích này ban chính Chúa Giêsu là nguồn mạch mọi ơn Thánh cho ta.
  10. Chúa Giêsu ban các Bí Tích cho ta.
  11. Chúng ta nhận được ơn thánh khi lãnh nhận các Bí Tích nếu chúng ta: Sạch tội trọng, có lòng muốn, và có ý ngay lành như lòng tin và lòng mến.
  12. Chúng ta lớn lên trong ơn thánh nhân đức và bảy ơn Chúa Thánh Thần như thế nào?
    • Lãnh nhận các Bí Tích.
    • Cầu nguyện.
    • Làm các việc lành.
  13. Bí Tích Rửa Tội và Giải Tội còn gọi là bí tích kẻ chết vì ban cho ta sự sống siêu nhiên và ơn thánh Chúa cho những người đã chết trong tội.