Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

 

Đức Thánh Cha chủ sự Công nghị phong 21 tân Hồng y

Vào lúc 10 giờ sáng thứ Bảy ngày 30/9/2023, tại quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã chủ sự Công nghị phong 21 Hồng y mới. Đây là công nghị phong Hồng y lần thứ 9 trong hơn 10 năm Đức Thánh Cha Phanxicô lãnh đạo Giáo hội.

21 tân Hồng y

Tên của 21 vị được Đức Thánh Cha thăng làm Hồng y lần thứ 9 này đã được ngài công bố trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật ngày 9/7/2023. Các tân Hồng y đến từ 8 quốc gia, trong đó có 3 vị người Ý, 3 vị người Argentina, 2 vị người Pháp, 2 vị người Tây Ban Nha, và các vị còn lại đến từ Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Nam Phi, Colombia, Ba Lan, Nam Sudan, Tanzania, Malaysia, Hồng Kông (Trung Quốc), Bồ Đào Nha và Venezuela.

Trong số 21 tân Hồng y có 18 vị dưới 80 tuổi có quyền bầu Giáo hoàng và 3 vị trên 80 tuổi không còn quyền bầu Giáo hoàng.

Đứng đầu danh sách là các vị đứng đầu các cơ quan Giáo triều Roma. Đầu tiên là Đức tân Hồng y Robert Francis PREVOST, O.S.A., Tổng Trưởng Bộ Giám Mục. Kế tiếp là Đức tân Hồng y Claudio GUGEROTTI, Tổng Trưởng Bộ Các Giáo Hội Đông Phương; Đức tân Hồng y Víctor Manuel FERNÁNDEZ, Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin. Cả 3 vị này đều mới được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Tổng trưởng trong thời gian gần đây.

Có 2 tân Hồng y đang là Sứ thần Tòa Thánh; đó là Đức tân Hồng y Emil Paul TSCHERRIG, Sứ Thần Tòa Thánh tại Ý; và Đức tân Hồng y Christophe Louis Yves Georges PIERRE, Sứ Thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ.

Đặc biệt, 1 tân Hồng y là Cha Ángel FERNÁNDEZ ARTIME, Bề Trên Cả Dòng Salêdiêng. Cũng thêm một điều đặc biệt nữa là Cha ARTIME sẽ được tấn phong Giám mục sau khi được thăng Hồng y. Thông thường, nếu các vị được thăng làm Hồng y chưa phải là Giám mục thì sẽ được tấn phong Giám mục, nếu các ngài muốn, trước khi được thăng làm Hồng y.

Có 20 tân Hồng y hiện diện trong Công nghị, còn Đức tân Hồng y Luis Pascual Dri, 96 tuổi, dòng Capuchino, người Argentina, không đến tham dự vì cao tuổi.

Công nghị phong Hồng y 

Vì Công nghị phong Hồng y diễn ra trong thời gian gần ngày khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ 16 nên có nhiều Hồng y, Giám mục và linh mục cũng hiện diện trong nghi lễ.

Công nghị phong Hồng y được tiến hành dưới hình thức một buổi phụng vụ Lời Chúa.

Sau lời chào phụng vụ của Đức Thánh cha, Đức Hồng y Claudio Gugerotti, người Ý, Tổng Trưởng Bộ Các Giáo Hội Đông Phương, đã đại diện các tân Hồng y chào mừng và cảm ơn Đức Thánh cha.

Trong bài huấn dụ dựa trên đoạn sách Công vụ Tông đồ (xem 2,1-11), trình thuật về Lễ Ngũ tuần, ngày khai sinh của Giáo Hội, Đức Thánh Cha mời gọi tái khám phá sứ ngạc nhiên và biết ơn vì đã được loan báo Tin Mừng. Đồng thời Đức Thánh Cha cũng mời gọi Hồng y đoàn, như một dàn nhạc giao hưởng, đa dạng nhưng phải góp phần vào kế hoạch chung, biết lắng nghe nhau.

Ngạc nhiên và biết ơn vì được đón nhận Tin Mừng

Trước hết, từ hình ảnh những người Do Thái ngạc nhiên vì sự hiện diện trong Nhà Tiệc Ly của những người “đến từ mọi quốc gia dưới gầm trời”, Đức Thánh Cha mời gọi “hãy nghĩ lại với lòng biết ơn về hồng ân được Phúc Âm hóa và được được nhận ân sủng của Tin Mừng từ các dân tộc”, mỗi dân tộc vào thời đại của họ, đã nhận được Kerygma, lời loan báo mầu nhiệm cứu độ, và khi đón nhận lời loan báo này, họ đã được rửa tội trong Chúa Thánh Thần và đã trở thành một phần của Giáo hội. Mẹ Giáo hội, nói bằng mọi ngôn ngữ, là Duy nhất và là Công Giáo.”

Được đón nhận Tin Mừng bằng chính ngôn ngữ của mình

Đức Thánh Cha nói rằng điều này rất quan trọng và không nên quên. Bởi vì ở đó, “trong lịch sử dân tộc chúng ta, Chúa Thánh Thần đã thực hiện kỳ công truyền đạt mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô đã chết và sống lại. Và mầu nhiệm này đến với chúng ta “bằng ngôn ngữ của chúng ta”, trên môi miệng và cử chỉ của ông bà cha mẹ chúng ta, của các giáo lý viên, các linh mục, các tu sĩ… Mỗi người chúng ta có thể nhớ những giọng nói và khuôn mặt cụ thể. Đức tin được truyền đạt “bằng phương ngữ” bởi các người mẹ và người bà.

Chúng ta là những người rao giảng Tin Mừng trong mức độ chúng ta luôn giữ trong lòng sự ngạc nhiên và biết ơn vì đã được truyền giảng Tin Mừng, ngay cả được Phúc âm hóa, bởi vì trên thực tế, đó là một món quà

Hiệp nhất hài hòa

Sau đó, Đức Thánh Cha mời gọi các Hồng y hiệp nhất và hài hòa trong đa dạng như trong dàn nhạc giao hưởng. Mọi nhạc sĩ và đặc biệt người điều khiển, phải lắng nghe nhau. Ngài đề nghị các Hồng y tin tưởng và phó thác vào Chúa Thánh Thần, vị thầy nội tâm và thầy của việc hiệp hành, Người tạo nên sự đa dạng và thống nhất, Người chính là sự hòa hợp.

Nghi thức phong Hồng y

Sau bài huấn dụ của Đức Thánh cha là nghi thức phong Hồng y, bắt đầu với việc Đức Thánh cha xướng danh các tân Hồng y cùng với đẳng linh mục hay phó tế được chỉ định cho các vị. Tiếp đến, các tân Hồng y tuyên xưng đức tin và tuyên thệ trung thành và vâng phục Đức Thánh cha và các đấng kế vị ngài.

Sau đó từng Hồng y lần lượt tiến đến quỳ trước mặt Đức Thánh cha và ngài đội mũ đỏ Hồng y và trao nhẫn cho các vị. Cuối cùng, Đức Thánh cha trao sắc chỉ về việc phong Hồng y và chỉ định tước hiệu thánh đường của các tân Hồng y.

Với 21 tân Hồng y vừa được phong, từ ngày 30/9 Hồng y đoàn sẽ có 242 Hồng y, trong đó có 137 Hồng y cử tri, là những vị dưới 80 tuổi và có quyền bầu Giáo hoàng.

Hồng Thủy – Vatican News

Nguồn: vaticannews.va/vi

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2023

  •                                 HOA MÂN CÔI    

Tháng 10 / 2023

*******

        Ý nguyện:  Trong tháng này, chị em hãy chăm chỉ đọc Kinh Mân Côi, để cầu nguyện cho việc truyền giáo của Hội Thánh. Xin Chúa cho mỗi chị em Mân Côi trở thành sứ giả loan báo Tin Mừng cho con cái cũng như những người khô khan nguội lạnh trong chính gia đình mình.

I - LỜI CHÚA :  

Tin mừng Lc 1,26-38 Lễ Bảo Trợ của Hội  Mân Côi.

II. GỢI Ý SUY NIỆM:

Bài Tin Mừng trên đây, được kết thúc bằng hai tiếng “Xin vâng” của Đức Mẹ. Hai tiếng “Xin vâng” xem ra rất nhỏ nhẹ đơn sơ, nhưng lại chứa đựng một tầm ảnh hưởng hết sức lớn lao.

Thánh Augustinô đã nói: “để sáng tạo nên con, Thiên Chúa không cần đến con. Nhưng để cứu chuộc con thì cần có con cộng tác”. Quả đúng như vậy, Thiên Chúa có chương trình cứu độ của Ngài, nhưng để chương trình cứu độ ấy được thành công, cần phải có sự vâng phục và cộng tác của con người. Mặc dù Chúa muốn cho con người được hạnh phúc, nhưng nếu con người từ chối, Thiên Chúa cũng không thể bắt ép con người, bởi vì Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do của họ.

Chương trình đầu tiên của Chúa đã thất bại vì A-đam, E-và đã bất tuân, không vâng lời Thiên Chúa. Ông bà đã nghe ma quỷ cám dỗ làm theo ý riêng, không làm theo ý Chúa, nên đã dẫn nhân loại tới sự chết. Trái lại, Đức Mẹ đã đồng ý cộng tác và vâng phục trong sự tự do, nhờ hai tiếng “Xin vâng” của Đức Mẹ, nên chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã được thực hiện cho loài người. Do đó, hai tiếng “Xin vâng” có ảnh hưởng trực tiếp tới chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Hai tiếng “Xin vâng” của Đức Mẹ vọng lại hai tiếng “Xin vâng” của Ngôi Lời Thiên Chúa. Vì vâng lời Chúa Cha, Con Thiên Chúa đã nhập thể làm người. Ngay khi Đức Mẹ đáp lời “Xin vâng” với Thiên thần Gabriel, Con Thiên Chúa cũng đáp lời “Xin vâng” với Chúa Cha. Với hai tiếng “Xin vâng”, Đức Mẹ đã khai thông chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa đã bị bế tắc bởi Nguyên tổ loài người. Sau hai tiếng “Xin vâng”, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người, trong cung lòng trong sạch, thánh khiết của Đức Mẹ.

Hai tiếng “Xin vâng” của Mẹ nghe có vẻ rất nhỏ nhẹ và khiêm tốn, nhưng đã ảnh hưởng tới cả cuộc đời của Chúa Giêsu và Đức Mẹ cũng như cho cả thế giới.

Với Chúa Giêsu, nhờ hai tiếng xin vâng của Đức Mẹ, Chúa đã bước vào trần thế trong thân phận của một con người, giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Ngài đã rời trời cao để đến ở nơi đất thấp. Ngài đã dập tắt ý riêng để làm theo ý Chúa Cha và coi thánh ý Chúa Cha như là lương thực để nuôi sống khi Ngài nói: “Lương thực nuôi sống Thầy là làm theo ý Đấng đã sai Thầy”. Vì vâng lời Chúa Cha mà Ngài đã chấp nhận chết trên Thánh giá như Ngài đã cầu nguyện trong vườn cây Dầu: “Lạy Cha, nếu có thể được thì xin cất chén này xa Con, nhưng đừng theo ý Con, mà theo ý Cha”.

Cũng vậy, với Mẹ Maria, hai tiếng “Xin vâng” đã ràng buộc tất cả cuộc đời Mẹ vào chương trình của Thiên Chúa. Vì “xin vâng”, Mẹ đã phải sinh con trong hang nhốt súc vật bẩn thỉu, hôi hám. Vì “xin vâng” Mẹ đã phải lận đận trốn chạy sang Ai cập trong đêm tối, đến một nơi không hề có người thân quen, không biết tiếng tăm, không biết phong tục tập quán. Vì “xin vâng” mà Mẹ đã chấp nhận đau khổ như lời tiên tri Simêon đã tiên báo: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà”. Vì “xin vâng” mà Mẹ đã theo Đức Giêsu trên khắp hành trình rao giảng Tin mừng nơi trần thế. Vì “xin vâng” mà Mẹ phải đứng dưới chân thập giá, chịu mọi nỗi đau đớn, khổ nhục với con của Mẹ. Khi tận mắt chứng kiến nỗi đau khổ ấy, dường như Mẹ cùng chết với Chúa Giêsu, con của Mẹ. Vì cuộc thương khó của Chúa chính là nỗi đau khổ của Mẹ.

Như thế, để nói tiếng “Xin vâng” với Chúa Cha, cả Chúa Giêsu và Đức Mẹ đã phải tận diệt ý riêng của mình để thuận theo thánh ý Chúa Cha. 

Khi tạo dựng nên chúng ta, Chúa đã có chương trình dành riêng cho mỗi người chúng ta, đó chính là chương trình tốt đẹp nhất. Nhưng nếu ta không cộng tác, thì chương trình ấy sẽ không thực hiện được. Để chương trình của Chúa được thực hiện, ta phải biết noi gương Đức Mẹ, đáp lời “Xin vâng” với Chúa, biết bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa. Hãy biết bỏ chương trình riêng để đi vào chương trình của Chúa. Hãy xin vâng khi vui cũng như lúc buồn. Hãy xin vâng khi hạnh phúc cũng như lúc đau khổ, bất hạnh. Hãy noi gương Đức Mẹ, xin vâng trong ngày truyền tin vui, và xin vâng cả khi đứng dưới chân thập giá trong đau khổ như Mẹ. Xin Vâng từng giây phút trong cuộc đời. Khi chương trình của Chúa được thực hiện, ta sẽ được hạnh phúc thực sự và không chỉ đem lại hạnh phúc cho ta mà còn cho những người chung quanh ta nữa.

Qua lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta hãy xin Mẹ dạy chúng ta luôn biết noi gương Mẹ đáp lời XIN VÂNG, để từ nay chúng ta không còn sống theo ý riêng của mình nữa mà biết luôn sống thánh ý Thiên Chúa như Mẹ đã nêu gương cho chúng ta.

Ta cũng hãy xin vâng bằng cả tấm lòng thành kính, bằng cả con tim và cả niềm vui, nỗi buồn xảy đến trong cuộc đời ta. Vì đó chính là thánh ý Thiên Chúa. Có như vậy chúng ta mới xứng đáng là con cái của Mẹ, để mai ngày được cùng Mẹ chung hưởng phúc vinh quang. Amen.

III - GỢI Ý SỐNG VÀ CHIA SẺ 

1.   Tôi có sẵn sàng đáp lời vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi biến cố của cuộc đời tôi, dù tôi chưa hiểu ý Chúa không ?  

2.   Mẹ không đáp lời xin vâng nơi môi miệng, nhưng đặc biệt Mẹ sống lời xin vâng ấy trong suốt cuộc đời Mẹ. Tôi có sống lời xin vâng hay chỉ vâng vâng, dạ dạ mà không đem ra thực hành?

3.  Khi gặp buồn phiền đau khổ, tôi có nhìn ra và vâng theo thánh ý Thiên Chúa hay tôi phàn nàn kêu trách Chúa ?   

          * Cầu nguyện cho chị em đã được Chúa gọi về trong tháng.

1 - Maria Phạm Thị Phương, giáo họ Đức Bản, giáo xứ Vân Cương.

2 - Anna Lê Thị Ngà, giáo họ Cửa Sông, giáo xứ Hoà Loan.

3 – Anna Nguyễn Thị Bóng, giáo họ Cửa Sông, giáo xứ Hoà Loan.

4 – Maria Nguyễn Thị Quy, họ nhà xứ, giáo xứ Thanh Dã.

5 – Anna  Nguyễn Thị Bích, giáo điểm Chũ, giáo hạt Bắc Giang.

-       *Lưu ý: Lễ Mân Côi, Bảo Trợ giáo phận năm nay được tổ chức vào lúc 9h00 sáng thứ Bảy, ngày 07 Tháng 10 năm 2023, tại Đền Lòng Chúa Thương Xót, giáo xứ Bến Đông. Xin các chị em về tham dự lễ bảo trợ của giáo phận, cũng là lễ bảo trợ của chị em được đông đủ, sốt sáng.

-        Chị em Mân Côi toàn giáo phận sẽ tập trung lúc 8h00 để ổn định, 8h30 dâng hoa kính Đức Mẹ, 9h00 Thánh Lễ.

-        Xin Ban phục vụ các giáo xứ, giáo họ trình bày với cha xứ của mình, cho chị em xưng tội trước khi về tham dự Thánh lễ.

-       Thứ bảy, ngày 04/11/2023, theo lịch phân công, Giáo hạt Vĩnh Phúc sẽ tập trung tại TTTM Từ Phong lúc 16h00 để gặp gỡ, học hỏi, chia sẻ => 17h00 cơm chiều => 18h00 dâng hoa kính Đức Mẹ => 18h30 Thánh lễ.

                                                Lm. Phêrô Mai Viết Thắng

                                                   Đặc trách Hội Mân Côi

                                                     Giáo Phận Bắc Ninh.

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

 

Buổi huấn đức của cha Giuse Nguyễn Văn Tĩnh (C.Ss.R) với các Chú Nhà Thánh Tự

Chiều ngày 26/09/2023, Nhà Ứng sinh thánh Phêrô Tự hân hoan chào đón cha Giuse Nguyễn Văn Tĩnh (C.Ss.R) về thăm và huấn đức các chú nhà thánh Tự. Cha Giuse hiện đang làm cha xứ giáo xứ Bắc Kạn và là bề trên dòng Chúa Cứu Thế tại giáo phận Bắc Ninh.

Trong giờ huấn đức, cha Giuse đã chia sẻ với các chú về tình yêu và đức ái cần có của người linh mục (đức ái mục tử, đức ái thừa sai và đức ái tông đồ).

Cha Giuse cũng chia sẻ về kinh nghiệm mục vụ truyền giáo nơi vùng đất Bắc Kạn đầy những khó khăn và thách đố. Cha còn nhắc nhở các chú phải biết noi gương theo đời sống của Thánh Anphongsô – đấng sáng lập dòng Chúa Cứu Thế: hãy ra đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khó và những người bị bỏ rơi, trước hết là trong chính nơi mình đang ở, học tập và mục vụ.

Sau cùng, cha nhắc nhở các chú phải biết giữ đời sống của mình theo sự vâng phục:  “Vâng phục là một cách hủy mình”.

Buổi huấn đức kết thúc trong niềm vui và ân sủng của Thiên Chúa.

Joseph Văn Quý

 

HỘI TRƯỞNG GIA ĐÌNH GPBN - 10/2023

(Đọc bằng điện thoại)

I- LỜI CHÚA: Lc 9, 57-62

II- SUY NIỆM:

Trong văn hóa Đông Phương, đạo có nghĩa là đường, theo đạo có nghĩa là theo một con đường. Theo nghĩa này, theo đạo Công Giáo là đi theo con đường của Thiên Chúa. Nhưng ý nghĩa ấy còn vượt xa hơn nữa bởi Đức Giêsu không chỉ là người dẫn đường mà chính Người cũng là đường, là đạo. Vậy theo đạo là đi theo Đức Giêsu, sống đạo tức là sống như Chúa, sống cho Chúa và trong Chúa. Thật vậy, theo đạo và sống đạo không hề dễ dàng chút nào, nhất là trong bối cảnh ngày hôm nay. Thánh Luca đã minh chứng rõ nét những đòi buộc của Đức Giêsu khó khăn như thế nào. Ba người trong trình thuật hôm nay đều có những nỗi trăn trở riêng, nhưng Đức Giêsu đã chỉ cho họ đâu mới thực sự là theo đạo, là sống đạo.

- Đối với người đầu tiên, Đức Giêsu đã thẳng thắn đáp lại sự hăng hái của anh trước hoàn cảnh bấp bênh của Người: “… nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” Thân phận “bèo dạt mây trôi”, “ba chìm bảy nổi” của người môn đệ đã được Đức Giêsu cảnh tỉnh. Chính Người cũng sống phiêu bạt, nay đây mai đó, không chỗ trú thân, lúc nào cũng trong tư thế “lên đường”. Chấp nhận bước theo Chúa là chịu bỏ mọi an toàn, ổn định, là sống thân phận lữ khách trên cõi đời này. Cuộc sống “trên đường” ấy khiến cho Người tự do hơn và luôn trong tâm thế ứng trực trước sứ mạng của Chúa Cha, của trần gian.

- Người thứ hai lại phải xin phép cho về chôn cất cha anh ta trước khi theo Chúa. Chôn cất cha mẹ là một việc bổn phận đạo hiếu thiêng liêng của những người làm con. Đức Giêsu cũng rất coi trọng việc thảo kính cha mẹ. Thế nhưng, đối với Người, việc ra đi loan báo Tin mừng là một bổn phận thiêng liêng cấp bách hơn. Ngài đòi buộc anh ta phải dành ưu tiên cho bổn phận này hơn hết.

- Người thứ ba chấp thuận theo Chúa với điều kiện cho anh về từ giã gia đình trước đã. Đối với người này, Đức Giêsu, một lần nữa, mời gọi anh ta phải dứt khoát hơn nữa một khi đã “tra tay vào cày.” Anh phải dứt khoát ra đi, chứ không còn vấn vương với những hoài niệm quá khứ, những lo toan, những ràng buộc của gia đình nữa, để tận tâm cho Nước Trời.

Thánh Luca không trình bày họ là những ai, và cuối cùng, họ có bước theo Chúa hay không; nên dường như ta sẽ dễ dàng thấy mình nơi hình ảnh của những con người ấy. Trước một xã hội đầy những bộn bề lo toan, ta có rất nhiều chọn lựa và ta phải lựa chọn. Đó là chấp nhận hy sinh điều này mà đón nhận điều kia. Hôm nay, Đức Giêsu không dạy ta sống bất hiếu với cha mẹ, vô cảm với người đã khuất, hay thậm chí là lãng quên gia đình,… nhưng Người dạy ta phải can đảm trong việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Đôi khi đó không phải là lựa chọn nữa, mà là ưu tiên số một của mỗi người chúng ta với tư cách là người Kitô hữu. 

Lạy Chúa Giêsu, trong thân phận làm người, anh em chúng con là trưởng gia đình nhiều khi vẫn còn vấn vương nhiều thứ bộn bề trong cuộc sống gia đình và xã hội, mà lãng quên bổn phận thiêng liêng hàng đầu của chúng con là gì. Xin Chúa giúp mỗi trưởng gia chúng con hiểu hơn và sống can đảm hơn với lời mời gọi loan báo Tin Mừng trong đời sống hàng ngày.  

* Gợi ý suy niệm và chia sẻ:

- Có điều gì mà Thiên Chúa đang mời gọi mỗi chúng ta, và đâu là những khó khăn, thách thức của bạn để đáp lời xin vâng?  

- Điều gì là ưu tiên số một trong cuộc sống của tôi, liệu Thiên Chúa có được ưu tiên không?

III- CẦU NGUYỆN CHO CÁC THÀNH VIÊN MỚI QUA ĐỜI:

1- Giuse Phạm Văn Nhâm - Họ nhà xứ Thiết Nham

2- Giuse Nguyễn Ngọc Thanh - Giáo họ Thanh Giã

3- Ông Vinh Sơn Đỗ Lương Hảo - Họ nhà xứ Nam Viên

4- Giuse Nguyễn Văn Thịnh - Họ Nghĩa La, xứ Lai Tê

5- Gioan Nguyễn Văn Đích - Họ nhà xứ Tiểu Lễ

6- Giuse Nguyễn Xuân Bính - Họ nhà xứ Tân cương

7- Giuse Phạm Văn Đức - Họ nhà xứ Yên Lãng

8- Giuse Vũ Văn Sỹ - Nhà xứ Đức Bản

9- Đaminh Nguyễn Xuân Đông - Nhà xứ Đức Bản

10- Vinh Sơn Nguyễn Văn Mùi - Họ Đông Trai, xứ Đức Bản

11- Phêrô Bùi Văn Cù - Họ nhà xứ Tân Bình

12- Augúttinô Cao Văn Cát - Họ nhà xứ Tân Bình

13- Giuse Nguyễn Văn Chiền – Họ nhà xứ Vinh Tiến

14- Phaolô Lê Văn Tiếu - Họ Bạch Hạc, xứ Hòa Loan


IV- HỌC TẬP:

KINH THÁNH: SÁCH GHI LỜI CHÚA (tt)

LINH ỨNG VÀ CHÂN LÝ KINH THÁNH

Nhìn từ bình diện nhân loại, Kinh Thánh là tổng hợp những tác phẩm của nhiều tác giả nhân loại. Họ là những con người cụ thể, sống trong một thời đại cụ thể, với những vấn đề của thời đại và có những khả năng riêng biệt. Tuy nhiên khi đọc Kinh Thánh, người tín hữu lại tuyên xưng "Đó là Lời Chúa" (1 Tx 2,13). Vì họ xác tín rằng chính Thiên Chúa là Tác Giả của Kinh Thánh. Chính Thiên Chúa là Tác Giả của Kinh Thánh. Tuy nhiên, "để viết các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ trong khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực, tất cả những gì Chúa muốn và chỉ viết những điều đó mà thôi" (MK 11). Hành động đó của Thiên Chúa được gọi là LINH HỨNG và "Những gì Thiên Chúa mặc khải mà Kinh Thánh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự lính hứng của Chúa Thánh Thần" (MK 11). Vì thế nên "Phải công nhận rằng Kinh Thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa muốn Kinh Thánh ghi lại vì phần rỗi chúng ta" (MK 11).

Lm. Đặc trách HTGĐ GPBN

Fx. Nguyễn Văn Huân

                                          ĐỨC THÁNH CHA TIẾP KIẾN CHUNG
                                                                    Ngày 27.09.2023
ĐỊA TRUNG HẢI KHÔNG ĐƯỢC LÀ NẤM MỒ, NHƯNG LÀ NƠI XÂY DỰNG NỀN VĂN MINH VÀ HÒA BÌNH
Vatican News
Vatican News (27.09.2023) – Chia sẻ với các tín hữu tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 27/9/2023, Đức Thánh Cha nói rằng có một giấc mơ và thách đố chung là giúp Địa Trung Hải phục hồi ơn gọi của nó: chiếc nôi của nền văn minh, sự sống và hòa bình.
Đức Thánh Cha vừa thăm thành phố Marseille ở miền nam nước Pháp vào cuối tuần vừa qua nhân dịp kết thúc “Cuộc gặp gỡ Địa Trung Hải”, một sự kiện được tổ chức tại Marseille từ ngày 17 đến 24/9/2023. Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô vào sáng thứ Tư 27/9/2023, Đức Thánh Cha đã chia sẻ với các tín hữu hiện diện về giấc mơ và thách đố chung là giúp Địa Trung Hải phục hồi ơn gọi của nó: chiếc nôi của nền văn minh, sự sống và hòa bình. Ngài nói rằng hiện tượng di cư là một dấu chỉ của thời đại và nó kêu gọi chúng ta lựa chọn giữa sự thờ ơ và tình huynh đệ.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng chúng ta cần một cái nhìn về Địa Trung Hải để giúp chúng ta khơi dậy niềm hy vọng trong xã hội của chúng ta, và đặc biệt là nơi các thế hệ mới. Sự kiện ở Marseille đã cho chúng ta thấy một viễn cảnh nhân đạo và đầy hy vọng. Một cái nhìn nhân bản, nghĩa là, có khả năng quy chiếu mọi sự về giá trị hàng đầu của con người và phẩm giá bất khả xâm phạm của họ. Và một cái nhìn hy vọng, với những kinh nghiệm và khuôn mặt cụ thể, khuyến khích chúng ta xây dựng các mối quan hệ huynh đệ và tình bạn xã hội. Đức Thánh Cha mời gọi hành động để mọi người, với trọn vẹn phẩm giá, có thể chọn di cư hay không di cư.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Địa Trung Hải: nơi xây dựng nền văn minh và hòa bình
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Vào cuối tuần trước, tôi đã đến Marseille nhân dịp bế mạc sự kiện "Các cuộc Gặp gỡ Địa Trung Hải", một sự kiện có sự tham dự của các Giám mục và Thị trưởng khu vực Địa Trung Hải, cùng với nhiều người trẻ, để cái nhìn của họ hướng tới tương lai. Thật vậy, sự kiện ở Marseille được mang tên “Bức tranh khảm của hy vọng”. Đây là một giấc mơ, đây là một thách thức: Địa Trung Hải phải phục hồi ơn gọi của nó, trở thành nơi xây dựng nền văn minh và hòa bình.
Địa Trung Hải là cái nôi của nền văn minh và cái nôi cho sự sống! Thật không thể chấp nhận được nếu nó trở thành nấm mồ, và nó cũng không thể là nơi xung đột. Không. Biển Địa Trung Hải là nơi hoàn toàn trái ngược với sự xung đột giữa các nền văn minh, chiến tranh và nạn buôn người. Hoàn toàn ngược lại: Địa Trung Hải là phương tiện liên lạc giữa Châu Phi, Châu Á và Châu Âu; phía bắc và phía nam, phía đông và phía tây; con người và các nền văn hóa, các dân tộc và ngôn ngữ, triết học và tôn giáo. Tất nhiên, biển luôn là một vực thẳm cần phải vượt qua, thậm chí nó có thể trở nên nguy hiểm. Nhưng nước của nó bảo vệ kho báu của sự sống, sóng và gió của nó mang theo đủ loại thuyền.
Di dân: dấu chỉ của thời đại
Cách đây hai ngàn năm, từ bờ biển phía đông của Địa Trung Hải, Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô đã lên đường để loan báo cho mọi dân tộc rằng chúng ta là con của cùng một Cha ở trên trời và sự chung sống công bằng và hòa bình của con người là có thể. Tất nhiên, điều này không xảy ra bằng phép thuật và không thể đạt được một lần và mãi mãi. Đó là kết quả của một cuộc hành trình trong đó mỗi thế hệ được mời gọi đi một chặng đường dài, bằng cách đọc những dấu chỉ của thời đại họ đang sống.
Đức Thánh Cha nói tiếp: Cuộc gặp gỡ ở Marseille diễn ra sau những cuộc gặp gỡ tương tự đã được tổ chức ở Bari vào năm 2020 và ở Firenze vào năm ngoái. Đó không phải là một sự kiện biệt lập, mà là một bước tiến của một hành trình, bắt đầu từ cuộc "Hội thảo Địa Trung Hải" do Thị trưởng Giorgio La Pira tổ chức tại Florence vào cuối những năm 1950. Hôm nay, nó là một bước tiến để đáp lại lời kêu gọi do Thánh Phaolô VI đưa ra trong Thông điệp Populorum Progressio của ngài, nhằm thúc đẩy “một thế giới nhân đạo hơn cho tất cả mọi người, một thế giới trong đó mọi người đều có thứ gì đó để cho và nhận, nơi mà sự tiến bộ của một số người không được mua bằng sự thiệt hại của người khác” (số 44).
Cái nhìn nhân đạo và hy vọng
Điều gì nảy sinh từ sự kiện ở Marseille? Điều nảy sinh là một cái nhìn về Địa Trung Hải, điều mà tôi định nghĩa cách đơn giản là lòng nhân đạo, phi ý thức hệ, không chiến lược, không đúng về mặt chính trị cũng như công cụ; nó có tính nhân đạo, nghĩa là có khả năng quy mọi thứ về giá trị hàng đầu của con người và của phẩm giá bất khả xâm phạm của họ. Và đồng thời một cái nhìn hy vọng xuất hiện. Điều này luôn gây ngạc nhiên: khi bạn lắng nghe những nhân chứng đã sống trong những hoàn cảnh vô nhân đạo hoặc những người đã chia sẻ chúng, và từ họ bạn nhận được “lời tuyên xưng của niềm hy vọng.” Và cũng là cái nhìn của tình huynh đệ.
Thưa anh chị em, niềm hy vọng này, tình huynh đệ này không được “bốc hơi”, không, trái lại nó phải được tổ chức, cụ thể hóa bằng những hành động dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, để mọi người, với đầy đủ phẩm giá, có thể lựa chọn di cư hoặc không di cư. Địa Trung Hải phải là một thông điệp hy vọng.
Khôi phục lại niềm hy vọng cho các xã hội châu Âu
Nhưng còn có một khía cạnh bổ sung khác: chúng ta cần khôi phục lại niềm hy vọng cho các xã hội châu Âu, đặc biệt là cho các thế hệ mới. Thực ra, làm sao chúng ta có thể chào đón người khác nếu trước tiên chúng ta không có một chân trời rộng mở hướng tới tương lai? Làm thế nào những người trẻ thiếu hy vọng, khép kín trong đời sống riêng tư, lo lắng về việc giải quyết tình trạng bấp bênh của mình, có thể cởi mở gặp gỡ và chia sẻ? Các xã hội của chúng ta đang bị bệnh chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu dùng và những lối thoát trống rỗng cần phải cởi mở, tâm hồn và tinh thần của họ cần được cung cấp oxy, và khi đó họ sẽ có thể coi cuộc khủng hoảng là một cơ hội và đối mặt với nó một cách tích cực.
Châu Âu cần tìm lại niềm đam mê và lòng nhiệt thành
​Châu Âu cần tìm lại niềm đam mê và lòng nhiệt thành, và tôi có thể nói rằng tôi đã tìm thấy chúng ở Marseille: nơi vị Mục tử của nó là Đức Hồng Y Aveline, nơi các linh mục và tu sĩ, nơi các giáo dân dấn thân vào hoạt động bác ái, trong hoạt động giáo dục, nơi dân Chúa, những người đã thể hiện sự nồng nhiệt tuyệt vời trong Thánh lễ tại Sân vận động Vélodrome. Tôi xin cảm ơn tất cả họ và Tổng thống nước Cộng hòa, người với sự hiện diện của mình đã chứng tỏ sự chú ý của toàn thể nước Pháp đối với sự kiện ở Marseille. Xin Đức Mẹ, mà người dân Marseille tôn kính là Notre Dame de la Garde, đồng hành cùng cuộc hành trình của các dân tộc Địa Trung Hải, để khu vực này trở thành điều mà nó luôn được kêu gọi trở thành: một bức tranh khảm của nền văn minh và niềm hy vọng.
Buổi tiếp kiến kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
Nguồn: vaticannews.va/vi

giaoxutancuongbogspot.com:  Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ...

giaoxutancuongbogspot.com:  Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ...:   Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ Quốc ngữ Ngày đăng: 28/09/2022 Phù điêu trên nhà thờ Hội An tái hiện hình ảnh các giáo s...

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

 

Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ Quốc ngữ
Ngày đăng: 28/09/2022
Phù điêu trên nhà thờ Hội An tái hiện hình ảnh các giáo sĩ nước ngoài đến Đàng Trong giảng đạo trên con thuyền vượt biển
Quá trình ra đời và hoàn thiện chữ Quốc ngữ được các nhà nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ cho rằng kéo dài khoảng 300 năm, từ đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, công lao sơ khởi có sự đóng góp to lớn của nhiều giáo sỹ Công giáo phương Tây với các quốc tịch khác nhau. Giai đoạn hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ phải nói đến các nhà trí thức, giới cầm quyền như các nhà thông dịch, báo chí, giáo dục, ngôn ngữ, in ấn… người Việt và người Pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi giới thiệu về quá trình ra đời chữ Quốc ngữ buổi sơ khai.


Quá trình truyền giáo của Công giáo tại Việt Nam trong yêu cầu khách quan của việc ra đời chữ Quốc ngữ

Theo chính sử, Công giáo được truyền đến Việt Nam vào năm 1533 bởi các giáo sỹ phương Tây, tuy nhiên trên thực tế và các tài liệu của phía giáo hội cũng ghi nhận công việc này chỉ thực sự đạt hiệu quả vào đầu thế kỷ 17 gắn với việc truyền giáo bằng tiếng Việt được La tinh hóa của các giáo sỹ. Nửa cuối thế kỷ 16, các giáo sĩ thừa sai Dòng Tên (Jésu) đã bắt đầu đến châu Á truyền đạo. Một trong những nơi họ đến sớm nhất là Trung Quốc, nơi mà trước đó vài thế kỷ, Maco Polo, nhà buôn, nhà thám hiểm người Ý, đã đến và mang về nhiều thông tin, sản vật của phương Đông làm cho người châu Âu hết sức bất ngờ.

Dòng Tên là một dòng tu trí thức của đạo Công giáo, tất cả những giáo sĩ của dòng này đều có trình độ khá cao về nhiều lĩnh qua việc đào tạo chuyên sâu về nhiều lĩnh vực, được cấp bằng sắc và sát hạch trình độ, nếu ai không đạt được buộc phải rời dòng. Những giáo sĩ này xuất thân từ những nước sử dụng chữ viết La tinh nên khi đến những nước sử dụng chữ tượng hình đã gặp khó khăn trong việc truyền đạo. Do là những người trí thức có trình độ cao, họ nhanh chóng học nói tiếng của người bản địa ở các nơi họ đến truyền đạo.

Việc truyền đạo không chỉ cần tiếng nói là đủ, mà cần phải có chữ viết, kinh sách để các con chiên (tín đồ) có thể đọc kinh sách bởi không có giáo sĩ, thầy giảng nào có thể thay thế kinh sách. Thực tiễn người Việt hầu như không biết chữ (trước thế kỷ 20) bởi nhiều lý do trong đó có lý do bởi dùng chữ tượng hình (Hán, Nôm) rất khó học, mất rất nhiều thời gian mới có thể đọc sách được, chưa nói đến việc dịch lại kinh sách nước ngoài. Mặt khác, việc truyền đạo Công giáo vào các nước phương Đông ở thời điểm ấy không phải lúc nào cũng dễ dàng do tùy thuộc vào quan điểm của quan lại địa phương, tình hình chính sự của quốc gia mà các giáo sĩ phương Tây đặt chân đến. Để có thể truyền lại kinh sách một cách tốt hơn, các giáo sĩ đã nghĩ ra phương pháp "La tinh hóa chữ tượng hình",  họ đã làm việc này ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản.

Trong các thế kỷ từ 15 đến 17, các thương buôn người Bồ Đào Nha có mặt hầu như khắp thế giới. Theo chân họ là những nhà truyền giáo, phần lớn là người Bồ và người Ý, tháp tùng truyền đạo ở những vùng đất mới. Theo thống kê có đến 145 giáo sĩ thuộc 17 quốc tịch đến Đàng Trong truyền giáo từ năm 1615-1788, trong đó có đến 74 người Bồ Đào Nha, 30 người Ý. Dòng Tên (Jesu) của đạo Công giáo là dòng tu đẩy mạnh việc đi truyền đạo thời kỳ này. Theo luật của dòng, mỗi khi đến vùng đất mới phải học tiếng địa phương, với tài năng riêng từng người, họ đã La tinh hóa tiếng nói và chữ viết địa phương để những người theo đạo có thể đọc được những kinh sách của đạo. Thứ chữ La tinh này được truyền lại cho các giáo sĩ đến sau để tiếp tục công cuộc truyền giáo. Đây là phương thức mà họ đã thực hiện ở nhiều nơi như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản... trước khi đến Việt Nam. Riêng ở Viễn Đông, dòng tu này thiết lập một trụ sở lớn và lâu dài ở Ma Cao (Trung Quốc) để làm nơi đi và đến cho các giáo sĩ.

Đầu thế kỷ 17, năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên đã đến Đàng Trong của Việt Nam (từ Quảng Bình trở vào) và bắt đầu học tiếng Việt, bắt tay vào việc La tinh hóa chữ Việt. Tài liệu viết tay của giáo sĩ João Roiz (người Bồ) viết năm 1621 đã có các chữ quốc ngữ ban đầu như An Nam (Việt Nam tức Đàng Trong), Sinoa (xứ Hóa tức Thuận Hóa), unsai (ông sãi), Cacham (Kẻ Chàm, sau này là Thanh Chiêm), ungue (ông nghè)...

Như vậy, tới năm 1621, việc La tinh hóa tiếng Việt vẫn chưa có dấu thanh. Tài liệu viết tay của giáo sĩ Antonio de Fontes, một học trò của Francesco de Pina, viết năm 1626 đã thấy xuất hiện dấu thanh. Dĩgcham (Dinh Chàm), Núocman (Nước Mặn), Sinúa (xứ Hóa), ondedóc (ông đề đốc), nhít la khấu, khấu la nhít (nhứt là không, không là nhứt). Gần đây khi tìm thấy di cảo của Pina ở Thư viện Hoàng gia Bồ Đào Nha giữa năm 2018 thì chữ quốc ngữ đã có dấu như ngày nay. Tài liệu này trưng bày trong Hội thảo về chữ Quốc ngữ diễn ra tại Lisbon Bồ Đào Nha vào tháng 7-2018.

Sau 400 năm chữ Quốc ngữ hình thành và phát triển nhưng lịch sử của nó không phải ai cũng biết rõ công lao của những người sáng tạo, ai là tác giả, xuất phát từ địa danh nào, lưu giữ truyền bá thế nào, lúc nào được sử dụng phổ thông… Hiện nay giới chuyên môn đã ghi nhận nhóm "tác giả" của chữ quốc ngữ gồm các giáo sĩ Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa (người Bồ Đào Nha), Cristoforo Borri (người Ý), Alexandre de Rhodes (người Pháp). Giáo sĩ Borri chỉ ở nước ta ba năm từ 1615 đến 1618. Còn ba giáo sĩ còn lại đều đến Đàng Trong năm 1624 và đều là học trò tiếng Việt của giáo sĩ Francesco de Pina. Tuy nhiên, trong số này, chỉ có giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) cho in cuốn sách tiếng Việt đầu tiên là cuốn Từ điển Việt - Bồ - La , tiếp đến là các công trình như: “Phép giảng Tám ngày”, “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài”, “Hành trình truyền giáo”… nên được nhiều người và giới truyền thông thường nhắc tới là "ông tổ" của chữ Quốc ngữ từ hàng thế kỷ qua.

Như vậy, có thể khẳng định rằng chữ Quốc ngữ ra đời có một quá trình dài từ năm 1618 cho đến 1625 với sự hợp tác của nhiều người chứ không chỉ một người. Đa số "tác giả" của chữ Quốc ngữ đều là người Bồ Đào Nha, người Ý cùng với một số người Việt theo Công giáo góp sức. Người được xác định "giỏi tiếng Việt nhất" và có công lớn nhất trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ sớm nhất chính là giáo sĩ Francesco de Pina người Bồ Đào Nha.

Khái lược cuộc đời người có công với chữ Quốc ngữ

1. Francesco De Pina sanh tại thành Guarda, Bồ Đào Nha khoảng năm 1585, gia nhập Dòng Tên vào năm 19 tuổi, sau đó đến xứ Goa (Ấn Độ) sống ít lâu trước khi sang Trung Quốc truyền đạo. Năm 1611, ông theo học tại Học viện Ma Cao (Collège de Macau) về khoa học xã hội, thần học và tiếng Nhật. Năm 1617, ông thụ phong linh mục và được cử đến Đàng Trong làm việc  và cư tại trú ở Hội An. Qua năm 1618, Pina đến cư trú tại Nước Mặn (Bình Định) với Buzomi và Borri, người Ý. Năm 1619, ông đến Thanh Chiêm (Quảng Nam) mua đất dựng nhà thờ và năm 1623 thành lập cơ sở ở Thanh Chiêm. Pina chết đuối trên bờ biển Quảng Nam ngày 15-12-1625. Lý do tàu Bồ Đào Nha từ Campuchia về Ma Cao, bỏ neo ở hải phận Quảng Nam, gần Cù Lao Chàm, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tàu để lấy các đồ phụng sự nhưng khi trở vào bờ, bất ngờ gió bão nổi lên, thuyền lật, Pina vì vướng áo chùng không bơi được nên chết đuối. Hiện nay ngôi mộ ông được được cho rằng ở sau nhà thờ Phước Kiều (nay là nhà thờ Thánh Andre), thuộc thôn Thanh Chiêm 1, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đây là nhà thờ do chính ông thành lập khi đến cư trú tại Thanh Chiêm và là nơi trú ngụ của nhiều giáo sĩ khác, trong đó có Alexandre de Rhodes.

2. Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon thuộc lãnh địa Giáo hoàng (nay ở miền nam nước Pháp), trong một gia đình khá giả. Ông sinh năm 1591 (có nguồn khác sinh năm 1593), tổ tiên ông tới từ vùng AragónTây Ban Nha sang tị nạn dưới bóng Giáo hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo hoàng. Sau khi hoàn thành trung học tại quê nhà, ông vào Nhà tập Dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, học thiên văn và toán học. Thời kỳ này, công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển nhưng cũng gặp sự kháng cự của các chính quyền sở tại. Trong bối cảnh đó, Alexandre de Rhodes đã xin và được giáo sĩ cấp trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản rồi Trung Quốc.  

Tháng 12 năm 1624, Alexandre cùng với bốn linh mục Dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản cập bến Hội An (Quảng Nam). Ông bắt đầu học tiếng Việt từ giáo sĩ Francisco de Pina, người đã đến Đàng Trong trước ông 7 năm và là nhà truyền giáo thông thạo tiếng Việt nhất, khi đó Pina cũng đang phát triển cách ghi âm tiếng Việt bằng ký tự La tinh. Từ đó Việt Nam trở thành nơi truyền giáo của Alexandre de Rhodes, nhưng có nhiều lý do, trong vòng 20 năm ông bị trục xuất đến năm lần. Năm 1645 là lần cuối cùng ông rời Việt Nam và tháng 6 năm 1649 ông trở về đến châu Âu, tại đây ông xuất bản hai cuốn sách do mình biên soạn năm 1651. Alexandre de Rhodes vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc truyền giáo tại châu Á, đã xin Tòa Thánh gửi các Giám mục truyền giáo đến Viễn Đông, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thầy giảng bản xứ. Năm 1655, ông được bề trên cử tới Ba Tư truyền giáo (Iran). Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Isfahan (Iran), sau khi ông chết, thi thể của ông được chôn cất tại chính nơi đây.


Quá trình in ấn các công trình ký tự hóa tiếng Việt

Sau khi Pina mất, một học trò tiếng Việt của ông là giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong năm 1624, đã mang tất cả những di cảo của thầy đưa về Ma Cao vào năm 1626. Tại Ma Cao Alexandre de Rhodes và cộng sự đã nghiên cứu chữ Quốc ngữ và đã soạn thảo hai cuốn tự điển Việt-Bồ-La và Bồ-Việt. Cộng sự của Alexandre de Rhodes là hai giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa cư trú ở Ma Cao gần 10 năm. Đáng tiếc là công trình của họ chưa kịp công bố thì tháng 2-1646 Gaspar mất trên đường biển đi đến nước ta và sau đó một năm thì Barbosa cũng mất vì bệnh.

Trong lời nói đầu cuốn Từ điển Việt - Bồ - La của mình, Alexandre de Rhodes có nhắc đến việc "tham khảo" tài liệu của hai giáo sĩ trên, điều đó cho thấy Alexandre de Rhodes đã thừa hưởng những di sản được người khác sáng tạo ra để góp phần hoàn thành cuốn từ điển có tiếng Việt đầu tiên trên thế giới. Điều đáng tiếc là hiện nay vẫn chưa tìm thấy hai cuốn tự điển của Gaspar và Barbosa đã viết. Hy vọng số phận của nó giống như cuốn từ điển của Bá Đa Lộc, tưởng đã cháy mất trong một trận hỏa hoạn ở Cà Mau nhưng lại được tìm thấy vào thập niên 1980. Sau khi rời khỏi Việt Nam năm 1645, Alexxander de Rhodes trở lại Ma Cao rồi trở về Roma và cho xuất bản cuốn từ điển Việt - Bồ - La năm 1651 tại xưởng in của Vatican. Ngoài cuốn từ  điển nêu trên Alexxander de Rhodes còn có các công trình khác bằng tiếng Việt như:  “Phép giảng Tám ngày”, “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài”, “Hành trình truyền giáo”…


Các nhà truyền giáo phương Tây đã làm một điều thật kỳ diệu là đã chuyển tiếng nói của người Việt Nam ra chữ viết theo hệ La tinh. Theo lịch sử các quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ như trên thì chính Francisco de Pina mới là cha đẻ của chữ Quốc ngữ. Trong khi Alexander De Rhodes là người học trò của ông, biên soạn, hoàn thiện tiếp theo dựa trên “bộ khung” mà Pina thiết kế và hoàn thiện, phổ biến qua việc in ấn, soạn một số bài giảng, từ điển, sách… bằng chữ Quốc ngữ. 

Cũng cần nói thêm là ngoài các giáo sĩ Dòng Tên nêu trên còn có các giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris như Lambret la Motte (1659-1679), Luy Laneun (1680-1682), Culielm Mahot (1682-1684), Francisco Perez(1684-1728), Carola Marino Lable (1697-1723), Alexandro de Alexandris (1726-1738), Juan Valere Rist (1735-1737) đều có những đóng góp trong việc truyền bá chữ quốc ngữ thông qua việc truyền giáo.  

Từ những thông tin trên cho chúng ta thấy nhà thờ Hội An là nhà thờ công giáo đầu tiên tại Việt Nam (Giáo xứ Hội An được thành lập năm 1615). Dinh Trấn Thanh Chiêm (xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam) là cái nôi hình thành chữ Quốc ngữ, giáo sĩ Francisco de Pina là người đầu tiên nghiên cứu chuyển tiếng nói người Việt ra mẫu tự La tinh để hình thành chữ Quốc ngữ buổi sơ khai.

Sau hơn 200 năm hình thành, chữ Quốc ngữ đã được các nhà tri thức Việt Nam (nhà văn, nhà báo, nhà cải cách xã hội, quan chức…) đẩy mạnh việc truyền bá đến đông đảo người dân gắn với báo chí, nhà in, trường học… Tiêu biểu ở phía Nam có tờ Gia Định báo ra đời 1865 (tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên), Lục tỉnh Tân văn… gắn với các ông Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của… Tiếp theo là các tờ báo ở phía Bắc như: Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, Nam Phong… gắn với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… Thông qua báo chí, việc đẩy mạnh truyền bá chữ Quốc ngữ cùng với trường học, nhà in, văn học… mà số người biết về chữ Quốc ngữ tăng nhanh.

Chữ Quốc ngữ ra đời đã góp phần hình thành chữ viết chính thống của người Việt, thúc đẩy cho nền hành chính quốc gia phát triển, nhất là sau khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (1945) đã lấy chữ Quốc ngữ là chữ viết chính thống. Chữ Quốc ngữ khi trở thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia thì được phổ cập đến toàn dân bằng nhiều hình thức, góp phần xóa nạn mù chữ phổ biến trong xã hội cũ (giai đoạn trước 1945) bởi việc dễ học hơn chữ Hán, Nôm. Việc phổ biến chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ 20, nhất là qua việc mở trường dạy học bằng chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) đã tạo ra giới trí thức người Việt đông đảo, dân trí người Việt được nâng cao, nghề báo, in ấn, giáo dục, văn chương… được thuận lợi, phát triển, xã hội ngày càng văn minh hơn../.