Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

 

Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ Quốc ngữ
Ngày đăng: 28/09/2022
Phù điêu trên nhà thờ Hội An tái hiện hình ảnh các giáo sĩ nước ngoài đến Đàng Trong giảng đạo trên con thuyền vượt biển
Quá trình ra đời và hoàn thiện chữ Quốc ngữ được các nhà nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ cho rằng kéo dài khoảng 300 năm, từ đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, công lao sơ khởi có sự đóng góp to lớn của nhiều giáo sỹ Công giáo phương Tây với các quốc tịch khác nhau. Giai đoạn hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ phải nói đến các nhà trí thức, giới cầm quyền như các nhà thông dịch, báo chí, giáo dục, ngôn ngữ, in ấn… người Việt và người Pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi giới thiệu về quá trình ra đời chữ Quốc ngữ buổi sơ khai.


Quá trình truyền giáo của Công giáo tại Việt Nam trong yêu cầu khách quan của việc ra đời chữ Quốc ngữ

Theo chính sử, Công giáo được truyền đến Việt Nam vào năm 1533 bởi các giáo sỹ phương Tây, tuy nhiên trên thực tế và các tài liệu của phía giáo hội cũng ghi nhận công việc này chỉ thực sự đạt hiệu quả vào đầu thế kỷ 17 gắn với việc truyền giáo bằng tiếng Việt được La tinh hóa của các giáo sỹ. Nửa cuối thế kỷ 16, các giáo sĩ thừa sai Dòng Tên (Jésu) đã bắt đầu đến châu Á truyền đạo. Một trong những nơi họ đến sớm nhất là Trung Quốc, nơi mà trước đó vài thế kỷ, Maco Polo, nhà buôn, nhà thám hiểm người Ý, đã đến và mang về nhiều thông tin, sản vật của phương Đông làm cho người châu Âu hết sức bất ngờ.

Dòng Tên là một dòng tu trí thức của đạo Công giáo, tất cả những giáo sĩ của dòng này đều có trình độ khá cao về nhiều lĩnh qua việc đào tạo chuyên sâu về nhiều lĩnh vực, được cấp bằng sắc và sát hạch trình độ, nếu ai không đạt được buộc phải rời dòng. Những giáo sĩ này xuất thân từ những nước sử dụng chữ viết La tinh nên khi đến những nước sử dụng chữ tượng hình đã gặp khó khăn trong việc truyền đạo. Do là những người trí thức có trình độ cao, họ nhanh chóng học nói tiếng của người bản địa ở các nơi họ đến truyền đạo.

Việc truyền đạo không chỉ cần tiếng nói là đủ, mà cần phải có chữ viết, kinh sách để các con chiên (tín đồ) có thể đọc kinh sách bởi không có giáo sĩ, thầy giảng nào có thể thay thế kinh sách. Thực tiễn người Việt hầu như không biết chữ (trước thế kỷ 20) bởi nhiều lý do trong đó có lý do bởi dùng chữ tượng hình (Hán, Nôm) rất khó học, mất rất nhiều thời gian mới có thể đọc sách được, chưa nói đến việc dịch lại kinh sách nước ngoài. Mặt khác, việc truyền đạo Công giáo vào các nước phương Đông ở thời điểm ấy không phải lúc nào cũng dễ dàng do tùy thuộc vào quan điểm của quan lại địa phương, tình hình chính sự của quốc gia mà các giáo sĩ phương Tây đặt chân đến. Để có thể truyền lại kinh sách một cách tốt hơn, các giáo sĩ đã nghĩ ra phương pháp "La tinh hóa chữ tượng hình",  họ đã làm việc này ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản.

Trong các thế kỷ từ 15 đến 17, các thương buôn người Bồ Đào Nha có mặt hầu như khắp thế giới. Theo chân họ là những nhà truyền giáo, phần lớn là người Bồ và người Ý, tháp tùng truyền đạo ở những vùng đất mới. Theo thống kê có đến 145 giáo sĩ thuộc 17 quốc tịch đến Đàng Trong truyền giáo từ năm 1615-1788, trong đó có đến 74 người Bồ Đào Nha, 30 người Ý. Dòng Tên (Jesu) của đạo Công giáo là dòng tu đẩy mạnh việc đi truyền đạo thời kỳ này. Theo luật của dòng, mỗi khi đến vùng đất mới phải học tiếng địa phương, với tài năng riêng từng người, họ đã La tinh hóa tiếng nói và chữ viết địa phương để những người theo đạo có thể đọc được những kinh sách của đạo. Thứ chữ La tinh này được truyền lại cho các giáo sĩ đến sau để tiếp tục công cuộc truyền giáo. Đây là phương thức mà họ đã thực hiện ở nhiều nơi như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản... trước khi đến Việt Nam. Riêng ở Viễn Đông, dòng tu này thiết lập một trụ sở lớn và lâu dài ở Ma Cao (Trung Quốc) để làm nơi đi và đến cho các giáo sĩ.

Đầu thế kỷ 17, năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên đã đến Đàng Trong của Việt Nam (từ Quảng Bình trở vào) và bắt đầu học tiếng Việt, bắt tay vào việc La tinh hóa chữ Việt. Tài liệu viết tay của giáo sĩ João Roiz (người Bồ) viết năm 1621 đã có các chữ quốc ngữ ban đầu như An Nam (Việt Nam tức Đàng Trong), Sinoa (xứ Hóa tức Thuận Hóa), unsai (ông sãi), Cacham (Kẻ Chàm, sau này là Thanh Chiêm), ungue (ông nghè)...

Như vậy, tới năm 1621, việc La tinh hóa tiếng Việt vẫn chưa có dấu thanh. Tài liệu viết tay của giáo sĩ Antonio de Fontes, một học trò của Francesco de Pina, viết năm 1626 đã thấy xuất hiện dấu thanh. Dĩgcham (Dinh Chàm), Núocman (Nước Mặn), Sinúa (xứ Hóa), ondedóc (ông đề đốc), nhít la khấu, khấu la nhít (nhứt là không, không là nhứt). Gần đây khi tìm thấy di cảo của Pina ở Thư viện Hoàng gia Bồ Đào Nha giữa năm 2018 thì chữ quốc ngữ đã có dấu như ngày nay. Tài liệu này trưng bày trong Hội thảo về chữ Quốc ngữ diễn ra tại Lisbon Bồ Đào Nha vào tháng 7-2018.

Sau 400 năm chữ Quốc ngữ hình thành và phát triển nhưng lịch sử của nó không phải ai cũng biết rõ công lao của những người sáng tạo, ai là tác giả, xuất phát từ địa danh nào, lưu giữ truyền bá thế nào, lúc nào được sử dụng phổ thông… Hiện nay giới chuyên môn đã ghi nhận nhóm "tác giả" của chữ quốc ngữ gồm các giáo sĩ Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa (người Bồ Đào Nha), Cristoforo Borri (người Ý), Alexandre de Rhodes (người Pháp). Giáo sĩ Borri chỉ ở nước ta ba năm từ 1615 đến 1618. Còn ba giáo sĩ còn lại đều đến Đàng Trong năm 1624 và đều là học trò tiếng Việt của giáo sĩ Francesco de Pina. Tuy nhiên, trong số này, chỉ có giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) cho in cuốn sách tiếng Việt đầu tiên là cuốn Từ điển Việt - Bồ - La , tiếp đến là các công trình như: “Phép giảng Tám ngày”, “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài”, “Hành trình truyền giáo”… nên được nhiều người và giới truyền thông thường nhắc tới là "ông tổ" của chữ Quốc ngữ từ hàng thế kỷ qua.

Như vậy, có thể khẳng định rằng chữ Quốc ngữ ra đời có một quá trình dài từ năm 1618 cho đến 1625 với sự hợp tác của nhiều người chứ không chỉ một người. Đa số "tác giả" của chữ Quốc ngữ đều là người Bồ Đào Nha, người Ý cùng với một số người Việt theo Công giáo góp sức. Người được xác định "giỏi tiếng Việt nhất" và có công lớn nhất trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ sớm nhất chính là giáo sĩ Francesco de Pina người Bồ Đào Nha.

Khái lược cuộc đời người có công với chữ Quốc ngữ

1. Francesco De Pina sanh tại thành Guarda, Bồ Đào Nha khoảng năm 1585, gia nhập Dòng Tên vào năm 19 tuổi, sau đó đến xứ Goa (Ấn Độ) sống ít lâu trước khi sang Trung Quốc truyền đạo. Năm 1611, ông theo học tại Học viện Ma Cao (Collège de Macau) về khoa học xã hội, thần học và tiếng Nhật. Năm 1617, ông thụ phong linh mục và được cử đến Đàng Trong làm việc  và cư tại trú ở Hội An. Qua năm 1618, Pina đến cư trú tại Nước Mặn (Bình Định) với Buzomi và Borri, người Ý. Năm 1619, ông đến Thanh Chiêm (Quảng Nam) mua đất dựng nhà thờ và năm 1623 thành lập cơ sở ở Thanh Chiêm. Pina chết đuối trên bờ biển Quảng Nam ngày 15-12-1625. Lý do tàu Bồ Đào Nha từ Campuchia về Ma Cao, bỏ neo ở hải phận Quảng Nam, gần Cù Lao Chàm, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tàu để lấy các đồ phụng sự nhưng khi trở vào bờ, bất ngờ gió bão nổi lên, thuyền lật, Pina vì vướng áo chùng không bơi được nên chết đuối. Hiện nay ngôi mộ ông được được cho rằng ở sau nhà thờ Phước Kiều (nay là nhà thờ Thánh Andre), thuộc thôn Thanh Chiêm 1, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đây là nhà thờ do chính ông thành lập khi đến cư trú tại Thanh Chiêm và là nơi trú ngụ của nhiều giáo sĩ khác, trong đó có Alexandre de Rhodes.

2. Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon thuộc lãnh địa Giáo hoàng (nay ở miền nam nước Pháp), trong một gia đình khá giả. Ông sinh năm 1591 (có nguồn khác sinh năm 1593), tổ tiên ông tới từ vùng AragónTây Ban Nha sang tị nạn dưới bóng Giáo hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo hoàng. Sau khi hoàn thành trung học tại quê nhà, ông vào Nhà tập Dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, học thiên văn và toán học. Thời kỳ này, công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển nhưng cũng gặp sự kháng cự của các chính quyền sở tại. Trong bối cảnh đó, Alexandre de Rhodes đã xin và được giáo sĩ cấp trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản rồi Trung Quốc.  

Tháng 12 năm 1624, Alexandre cùng với bốn linh mục Dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản cập bến Hội An (Quảng Nam). Ông bắt đầu học tiếng Việt từ giáo sĩ Francisco de Pina, người đã đến Đàng Trong trước ông 7 năm và là nhà truyền giáo thông thạo tiếng Việt nhất, khi đó Pina cũng đang phát triển cách ghi âm tiếng Việt bằng ký tự La tinh. Từ đó Việt Nam trở thành nơi truyền giáo của Alexandre de Rhodes, nhưng có nhiều lý do, trong vòng 20 năm ông bị trục xuất đến năm lần. Năm 1645 là lần cuối cùng ông rời Việt Nam và tháng 6 năm 1649 ông trở về đến châu Âu, tại đây ông xuất bản hai cuốn sách do mình biên soạn năm 1651. Alexandre de Rhodes vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc truyền giáo tại châu Á, đã xin Tòa Thánh gửi các Giám mục truyền giáo đến Viễn Đông, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thầy giảng bản xứ. Năm 1655, ông được bề trên cử tới Ba Tư truyền giáo (Iran). Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Isfahan (Iran), sau khi ông chết, thi thể của ông được chôn cất tại chính nơi đây.


Quá trình in ấn các công trình ký tự hóa tiếng Việt

Sau khi Pina mất, một học trò tiếng Việt của ông là giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong năm 1624, đã mang tất cả những di cảo của thầy đưa về Ma Cao vào năm 1626. Tại Ma Cao Alexandre de Rhodes và cộng sự đã nghiên cứu chữ Quốc ngữ và đã soạn thảo hai cuốn tự điển Việt-Bồ-La và Bồ-Việt. Cộng sự của Alexandre de Rhodes là hai giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa cư trú ở Ma Cao gần 10 năm. Đáng tiếc là công trình của họ chưa kịp công bố thì tháng 2-1646 Gaspar mất trên đường biển đi đến nước ta và sau đó một năm thì Barbosa cũng mất vì bệnh.

Trong lời nói đầu cuốn Từ điển Việt - Bồ - La của mình, Alexandre de Rhodes có nhắc đến việc "tham khảo" tài liệu của hai giáo sĩ trên, điều đó cho thấy Alexandre de Rhodes đã thừa hưởng những di sản được người khác sáng tạo ra để góp phần hoàn thành cuốn từ điển có tiếng Việt đầu tiên trên thế giới. Điều đáng tiếc là hiện nay vẫn chưa tìm thấy hai cuốn tự điển của Gaspar và Barbosa đã viết. Hy vọng số phận của nó giống như cuốn từ điển của Bá Đa Lộc, tưởng đã cháy mất trong một trận hỏa hoạn ở Cà Mau nhưng lại được tìm thấy vào thập niên 1980. Sau khi rời khỏi Việt Nam năm 1645, Alexxander de Rhodes trở lại Ma Cao rồi trở về Roma và cho xuất bản cuốn từ điển Việt - Bồ - La năm 1651 tại xưởng in của Vatican. Ngoài cuốn từ  điển nêu trên Alexxander de Rhodes còn có các công trình khác bằng tiếng Việt như:  “Phép giảng Tám ngày”, “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài”, “Hành trình truyền giáo”…


Các nhà truyền giáo phương Tây đã làm một điều thật kỳ diệu là đã chuyển tiếng nói của người Việt Nam ra chữ viết theo hệ La tinh. Theo lịch sử các quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ như trên thì chính Francisco de Pina mới là cha đẻ của chữ Quốc ngữ. Trong khi Alexander De Rhodes là người học trò của ông, biên soạn, hoàn thiện tiếp theo dựa trên “bộ khung” mà Pina thiết kế và hoàn thiện, phổ biến qua việc in ấn, soạn một số bài giảng, từ điển, sách… bằng chữ Quốc ngữ. 

Cũng cần nói thêm là ngoài các giáo sĩ Dòng Tên nêu trên còn có các giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris như Lambret la Motte (1659-1679), Luy Laneun (1680-1682), Culielm Mahot (1682-1684), Francisco Perez(1684-1728), Carola Marino Lable (1697-1723), Alexandro de Alexandris (1726-1738), Juan Valere Rist (1735-1737) đều có những đóng góp trong việc truyền bá chữ quốc ngữ thông qua việc truyền giáo.  

Từ những thông tin trên cho chúng ta thấy nhà thờ Hội An là nhà thờ công giáo đầu tiên tại Việt Nam (Giáo xứ Hội An được thành lập năm 1615). Dinh Trấn Thanh Chiêm (xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam) là cái nôi hình thành chữ Quốc ngữ, giáo sĩ Francisco de Pina là người đầu tiên nghiên cứu chuyển tiếng nói người Việt ra mẫu tự La tinh để hình thành chữ Quốc ngữ buổi sơ khai.

Sau hơn 200 năm hình thành, chữ Quốc ngữ đã được các nhà tri thức Việt Nam (nhà văn, nhà báo, nhà cải cách xã hội, quan chức…) đẩy mạnh việc truyền bá đến đông đảo người dân gắn với báo chí, nhà in, trường học… Tiêu biểu ở phía Nam có tờ Gia Định báo ra đời 1865 (tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên), Lục tỉnh Tân văn… gắn với các ông Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của… Tiếp theo là các tờ báo ở phía Bắc như: Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, Nam Phong… gắn với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… Thông qua báo chí, việc đẩy mạnh truyền bá chữ Quốc ngữ cùng với trường học, nhà in, văn học… mà số người biết về chữ Quốc ngữ tăng nhanh.

Chữ Quốc ngữ ra đời đã góp phần hình thành chữ viết chính thống của người Việt, thúc đẩy cho nền hành chính quốc gia phát triển, nhất là sau khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (1945) đã lấy chữ Quốc ngữ là chữ viết chính thống. Chữ Quốc ngữ khi trở thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia thì được phổ cập đến toàn dân bằng nhiều hình thức, góp phần xóa nạn mù chữ phổ biến trong xã hội cũ (giai đoạn trước 1945) bởi việc dễ học hơn chữ Hán, Nôm. Việc phổ biến chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ 20, nhất là qua việc mở trường dạy học bằng chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) đã tạo ra giới trí thức người Việt đông đảo, dân trí người Việt được nâng cao, nghề báo, in ấn, giáo dục, văn chương… được thuận lợi, phát triển, xã hội ngày càng văn minh hơn../.














 



Một ngày sống trong Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội


 




Một ngày sống trong Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội


 


 TÔNG ĐỒ CẦU NGUYỆN, NGÀY 26/09/2023

CÙNG CHÚA GIÊ-SU BUỔI SÁNG

​Gia đình của Chúa Giê-su.

Bình minh tới, con lại có thêm cơ hội để tìm kiếm sự thánh thiện. Ai là anh chị em của Chúa Giêsu? Tin Mừng hôm nay trả lời: "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8,19-21). Rõ ràng, gia đình Chúa Giê-su là những ai lắng nghe và tuân giữ lời Chúa. Con suy ngẫm về cách để thêm gắn bó với Chúa Giê-su, tập trung lắng nghe và áp dụng lời Chúa vào đời sống. Quyết tâm của con trong ngày hôm nay chính là trở nên gắn bó hơn với mọi người trong gia đình của Chúa. Lạy Cha chúng con..

— ∞  +  ∞ —

CÙNG CHÚA GIÊ-SU TRONG NGÀY

​Sống Lời Chúa. Con dành chút thời gian tới bên Chúa Giêsu. Làm một Kitô Hữu và lan truyền Tin Mừng cứu độ liệu có dễ dàng? Con ngẫm về những trải nghiệm và những lời chứng của mình. ĐGH Phanxicô khẳng định "Mặt khác, thực hành những gì được nghe là không hề đơn giản, bởi vì sống thảnh thơi không bận tâm tuân giữ lời Chúa thì dễ hơn rất nhiều." Liệu con đã tuân giữ luật Chúa đầy đủ chưa? Con có cố gắng sống theo các mối phúc trong đời sống hằng ngày chưa? Con hứa sẽ chú ý lắng nghe và thực hành lời Chúa hơn. Con dâng lời cầu nguyện theo ý chỉ tháng này.

— ∞  +  ∞ —

CÙNG CHÚA GIÊ-SU BUỔI TỐI

​Con cảm tạ Chúa đã cho con sống một ngày bình an. Ngài đã đồng hành với con tới tận lúc này, tình yêu và sự thiện hảo của Ngài nâng đỡ con. Con biết ơn vì những nụ cười con đã nhận và đã trao đi, vì những người Ngài cho con gặp và phục vụ trong hôm nay. Tạ ơn Chúa đã ban cho con công việc và của ăn hằng ngày. Xin thứ lỗi cho những lần con cằn nhằn, tức tối, và chưa biết cách đón nhận mệt mỏi trong niềm vui. Con muốn sống theo Đức Tin để đời sống của con làm chứng về Ngài. Mong sao việc con làm thể hiện được điều con tin. Lạy Chúa, xin giúp con sống Lời Chúa ngày một nhiều hơn. Kính mừng Maria...

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023


 


 

 

                                           THỨ TƯ LỄ TRO: NHỮNG CÂU HỎI ĐÁP

                                                                                                 20 / 02/ 2023,         04:02:29

 Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro là gì?

Đáp: Thứ Tư Lễ Tro là ngày bắt đầu Mùa Chay, cách Thứ Sáu Tuần Thánh 40 ngày.

Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro có dựa trên một lễ hội ngoại giáo không?

Đáp: Không. Thứ Tư Lễ Tro bắt nguồn từ những năm 900 Công nguyên, rất lâu sau khi Châu Âu đã được Kitô giáo hóa và các phụng thờ ngoại giáo bị dập tắt.

Hỏi: Tại sao gọi là Thứ Tư Lễ Tro?

Đ: Thực ra, Thứ Tư Lễ Tro là tên thông dụng. Tên chính thức của nó là “Ngày của tro” (Dies Cinerum). Nó được gọi là “Thứ Tư Lễ Tro” vì bốn mươi ngày trước Thứ Sáu Tuần Thánh luôn rơi vào Thứ Tư đồng thời vào ngày đó các tín hữu sẽ bôi tro lên trán theo hình thánh giá.

Hỏi: Tại sao xức tro dấu thánh giá trên trán?

Đáp: Vì trong Kinh thánh, đánh dấu trên trán tượng trưng cho quyền sở hữu của một người. Khi ghi dấu thánh giá trên trán, điều này nói lên rằng người đó thuộc về Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết trên Thánh giá.

Đây cũng là điều bắt chước dấu ấn thiêng liêng hay ấn tín được ghi trên một Kitô hữu trong bí tích rửa tội, khi được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và ma quỷ, trở thành nô lệ của sự công bình và Đức Kitô (Rm 6,3-18).

Đây cũng là bắt chước cách mà sự công chính được mô tả trong sách Khải huyền nói về các tôi tớ của Thiên Chúa (các Kitô hữu được tượng trưng bởi 144.000 nam nhân):

“Xin đừng phá hại đất liền, biển cả và cây cối, trước khi chúng tôi đóng ấn trên trán các tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta” (Kh 7,3)

"Chúng bị cấm không được phá hại cỏ trên mặt đất, mọi loài xanh tươi và mọi cây cối, mà chỉ được phá hại những người không mang ấn của Thiên Chúa trên trán" (Kh 9,4)

“Tôi thấy: kìa Con Chiên đứng trên núi Xion; cùng với Con Chiên, có một trăm bốn mươi bốn ngàn người, mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên ghi trên trán” (Kh 14,1)

Đây là điều ngược lại với những người theo con thú, những người có số 666 trên trán hoặc trên tay.

Tham chiếu đến việc ghi ấn các tôi tớ của Thiên Chúa để bảo vệ họ trong sách Khải Huyền là ám chỉ đến một đoạn song song trong sách Êzekien, nơi có các tôi tớ Thiên Chúa được đóng ấn để bảo vệ họ:

"Hãy rảo khắp thành, khắp Giêrusalem. Hãy ghi dấu chữ thập trên trán (nghĩa đen là một dấu chữ “tav”) những người đang rên siết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xảy ra trong khắp thành." Tôi lại nghe Đức Chúa phán với năm người kia: "Hãy đi theo người ấy vào thành mà chém giết. Đừng nhìn mà thương hại, đừng xót thương. Người già, thanh niên, thiếu nữ, cũng như đàn bà con trẻ, các ngươi hãy giết cho sạch; nhưng tất cả những ai mang dấu trên mình, các ngươi chớ đụng đến. Các ngươi sẽ bắt đầu từ Nơi Thánh của Ta." Và họ đã bắt đầu từ đàn ông, từ người già ở trước Đền Thờ” (Êd 9, 4-6).

Rủi thay, các bản dịch hiện đại đều không ghi đoạn này theo nghĩa đen. Thực sự câu này muốn nói là ghi một dấu chữ “tav” trên trán của những người công chính ở Giêrusalem. Chữ “tav” là một trong những chữ cái của bảng chữ cái tiếng Do Thái và trong chữ viết cổ, nó trông giống như chữ cái “chi” trong tiếng Hy Lạp, là hai gạch “chéo” (giống như chữ "x") và là chữ cái đầu tiên trong từ "Christ" (Kitô) trong tiếng Hy Lạp là “christos” (Χριστός). Các rabbi Do Thái đã giải thích về mối liên hệ giữa “tav” và “chi” và chắc chắn đây là dấu ấn mà sách Khải Huyền muốn nói đến khi các tôi tớ của Thiên Chúa được ghi dấu ấn.

Các Giáo phụ sơ thời đã nắm bắt mối liên hệ giữa “tav-chi”- thập giá – “christos” này và giải thích nó trong các bài giảng của mình, nhìn thấy ở Êzekien một điềm báo tiên tri về việc các Kitô hữu được ghi dấu ấn để làm tôi tớ của Đức Kitô. Đây cũng là một phần nền tảng của tục làm dấu thánh giá nơi người Công giáo, mà trong những thế kỷ đầu (như được ghi chép lại từ thế kỷ thứ hai trở đi) đã được thực hành bằng cách dùng ngón tay cái làm một dấu thánh giá nhỏ trên trán, như người Công giáo làm ngày nay khi đọc Tin Mừng trong Thánh lễ.

Hỏi: Tại sao làm dấu với tro?

Đáp: Bởi vì tro là biểu tượng Kinh Thánh nói về sự than khóc và sám hối. Trong thời Kinh thánh, có phong tục nhịn ăn, mặc áo vải gai, ngồi trong đống tro, và rắc tro lên đầu. Bình thường thì không ai mặc áo gai hay ngồi trong đống tro, nhưng tập tục ăn chay và rắc tro lên trán như một dấu hiệu của sự đau buồn và sám hối vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Đây là hai trong số những điểm chính của Mùa Chay. Thực tế, Thứ Tư Lễ Tro không chỉ là ngày xức tro trên đầu mà còn là ngày ăn chay.

Hỏi: Có ví dụ nào trong Kinh thánh về những người xức bụi tro lên trán?

Đáp: Có những trường hợp sau đây:

“Một người thuộc chi tộc Bengiamin từ mặt trận chạy về, và ngay hôm đó tới Silô, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất” (1 Sm 4, 12)

"Sang ngày thứ ba, có một người từ trại, từ bên vua Saun đến, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. Khi đến gần ông Đavít, anh ta sấp mình xuống đất và sụp lạy" (2 Sm 1, 2)

"Tamar lấy tro bụi rắc lên đầu, xé cái áo chùng dài tay cô đang mặc, đặt tay lên đầu, vừa đi vừa kêu la" (2 Sm 13, 19)

“Khi vua Đavít lên tới đỉnh, nơi người ta thờ lạy Thiên Chúa, thì này ông Khusai, người Ácki, đón gặp vua, áo chùng ông xé rách, đầu thì rắc đất” (2 Sm 15, 32)

Hỏi: Tro còn có ý nghĩa nào khác?

Đáp: Có. Chúng cũng tượng trưng cho cái chết và do đó nhắc nhở chúng ta về tính phải chết của mình. Thế nên, khi vị linh mục dùng ngón tay cái ghi dấu bằng tro cho một tín hữu, ông nói: "Hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về tro bụi", như Thiên Chúa nói với ông Ađam (Stk 3, 19; xem G 34,15, Tv 90,3, 104,29, Gv 3,20). Điều này cũng lặp lại những lời trong lễ an táng, "Tro bụi trở về với tro bụi", dựa trên lời Thiên Chúa nói với ông Ađam trong Sáng thế ký 3 và lời thú nhận của Ápraham, " Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi" (Stk 18, 27). Do đó, đây là lời nhắc nhở về cái chết của chúng ta và nhu cầu phải hối cải trước khi cuộc sống này qua đi và chúng ta đối mặt với vị Thẩm Phán của mình.

Hỏi: Tro được sử dụng vào Thứ Tư Lễ Tro đến từ đâu?

Đ: Từ tro của những lá cọ đã được giữ lại từ Chúa Nhật Lễ Lá của năm trước, sau đó chúng được linh mục làm phép - tro được làm phép đã được sử dụng trong các nghi lễ của Thiên Chúa từ thời Môisê (Ds 19, 9-10, 17 ).

Hỏi: Tại sao lại là tro của Chúa Nhật Lễ Lá năm trước?

Đáp: Vì vào Chúa Nhật Lễ Lá, dân chúng chào mừng sự khải hoàn của Chúa Giêsu khi tiến vào thành Giêrusalem. Họ mừng Ngài bằng cách vẫy những chiếc lá cọ, không nhận ra rằng Ngài đến để chịu chết vì tội lỗi của họ. Khi sử dụng những cành lá từ Chúa Nhật Lễ Lá, đó là một lời nhắc nhở rằng chúng ta không chỉ vui mừng về việc Ngài đến nhưng còn phải hối tiếc rằng tội lỗi của chúng ta đã khiến Ngài phải chết thay để cứu chúng ta khỏi địa ngục.

Hỏi: Có đòi buộc các tín hữu phải xức tro lên trán không?

Đáp: Không, điều này không bắt buộc nhưng được khuyến khích mạnh mẽ vì đây là một lời nhắc thiêng liêng phù hợp và hữu hình, khích lệ người ta nhận lấy thái độ cầu nguyện, ăn năn và khiêm nhường. Như Thánh Giacôbê đã nói: “Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên” (Gc 4, 10).

Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro có phải là một ngày lễ buộc, nghĩa là phải dự Thánh lễ?

Đáp: Không, đây không phải là ngày lễ buộc. Tuy nhiên, điều này được khuyến khích vì thích hợp để đánh dấu khởi đầu của Mùa Chay sám hối bằng cách tham dự Thánh lễ. Việc thờ phượng Thiên Chúa cách trang trọng, cùng với cộng đoàn, là một cách tốt đẹp để bắt đầu mùa Chay. Ngoài ra, mặc dù đó không phải là ngày bắt buộc, nhưng đó là ngày ăn chay và kiêng thịt.

Hỏi: Tại sao Thứ Tư Lễ Tro không phải là ngày lễ buộc?

Đáp: Lễ buộc là ngày kỷ niệm các biến cố đặc biệt (chẳng hạn như sự sinh hạ của Đức Kitô hoặc dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh), những người đặc biệt (chẳng hạn như người cha trần thế của Đức Giêsu là Thánh Giuse), hoặc các khái niệm thần học quan trọng (như Vương quyền của Chúa Kitô). Thứ Tư Lễ Tro không kỷ niệm bất kỳ biến cố nào (không có gì đặc biệt xảy ra bốn mươi ngày trước khi bị đóng đinh - ít nhất là chúng ta không biết gì về điều đó), và có thể là gián tiếp tưởng niệm một Ngôi vị (Chúa Kitô) vì đây là  bước khởi đầu để chuẩn bị các cử hành lớn hơn về trong công cuộc cứu độ của Đức Kitô sau đó, và mặc dù Thứ Tư Lễ Tro là ngày thống hối (giống như tất cả các ngày khác của Mùa Chay trừ Chúa Nhật, là những ngày lễ trọng bất kể thời điểm nào trong lịch phụng vụ vì là kỷ niệm sự phục sinh của Đức Kitô), Giáo hội không bao giờ chọn ngày này hay bất cứ ngày nào khác để làm ngày tưởng niệm về sự thống hối.

Tác giả: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính Chuyển ngữ từ: catholicshield.wordpress.com (07.02.2013)
Nguồn: gpquinhon.org (19.02.2023)

Thứ Năm, 31 tháng 8, 2023

 

 

HỘI TRƯỞNG GIA ĐÌNH GPBN

 – Tháng 9/2023

I- LỜI CHÚA: Lc 4,38-44

II- SUY NIỆM:

Bài Tin Mừng thánh Luca kể lại cho chúng ta một ngày làm việc của Chúa. Theo nhịp sống ấy, Đức Giêsu hiện lên là một Đấng chữa lành đầy uy quyền. Sau khi giảng dạy ở hội đường Caphácnaum, chính Người đã dùng những lời lẽ đầy uy quyền mà trục xuất ma quỷ khỏi một người đàn ông (Lc 4, 31-37). Khi ra khỏi hội đường, Người đến nhà mẹ vợ ông Simon Phêrô và thấy bà đang bị sốt nặng. Đức Giêsu đã cúi xuống và đến gần bà, rồi ra lệnh cho cơn sốt biến khỏi người phụ nữ ấy. Trong căn phòng nhỏ bé của nhà ông Simon, Đức Giêsu không chỉ đứng đó và dùng một lời để ra lệnh cho cơn sốt như Người đã xua trừ ma quỷ, nhưng Người đã cúi xuống và lại gần người bệnh. Có lẽ chỉ bằng một lời, Đức Giêsu cũng có thể chữa lành cho người ấy, nhưng Người đã khiêm nhường cúi xuống với con người, lại gần hơn với những đau khổ của người khổ đau.

Chiều đến, Đức Giêsu còn chữa lành hết những ai đau yếu với đủ thứ bệnh hoạn được đưa đến với Người. Cũng vậy, Người không tập trung tất cả mọi người lại, rồi lớn tiếng ra lệnh cho các bệnh tật biến mất, nhưng Người đã đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. Một lần nữa, Đức Giêsu muốn chạm đến và cảm nhận nỗi đau của từng người một. Người không lạm dụng một chút nào về quyền năng hay ra oai với uy lực của mình, nhưng Người không chỉ muốn giải thoát họ khỏi những nỗi đau đớn về thể xác mà còn thấu hiểu những đớn đau ấy của từng người.

Giờ đây, Đức Giêsu cũng đang rất muốn chữa lành những nỗi khổ đau của ta. Người sẽ đến và đụng chạm tới từng người một, và chữa lành những vết thương ấy cho từng người chúng ta. Nhờ đó, ta có thể cảm nhận được phần nào tình yêu thương và lòng thương xót của Người dành cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta. Hơn nữa, chính khi cảm nhận được sự chữa lành, ta cũng được mời gọi trở thành những người chữa lành vết thương cho người khác theo lối hành xử của Thầy Giêsu. Với thái độ khiêm nhường, Người muốn ta lưu tâm đến những con người ấy, cúi xuống, chạm đến họ, lắng nghe họ, cảm thông với họ, thậm chí còn có thể chữa lành những nỗi đau của họ về tinh thần cũng như vật chất.

Quyền năng chữa lành ấy tới từ đâu? Đức Giêsu đã ra nơi hoang vắng. Người đã làm gì? Ắt hẳn, Người đến để gặp Cha trên trời và kín múc nguồn sức mạnh ở nơi ấy. Đức Giêsu vẫn luôn giữ mối liên kết với Cha của Người trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là nhận lãnh quyền uy vô tận của Chúa Cha. Và Người cũng mời gọi mỗi người chúng ta cũng hãy kín múc nguồn sức mạnh ấy nơi Thiên Chúa là Cha của mọi người, của mỗi người, và giữ mối liên hệ khăng khít với Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, giữa những bộn bề tất bật của cuộc sống, giữa những lo toan của cuộc đời, xin giúp mỗi trưởng gia chúng con biết chạy đến với Chúa là nguồn an ủi và chữa lành hết thảy chúng con. Nhờ đó, các gia trưởng cũng biết mang tình yêu của Người đến cho những người xung quanh, nhất là những người khô khan, những người đang đau khổ, khó khăn, thiếu thốn phần hồn phần xác.

* Gợi ý suy niệm và chia sẻ:

- Tuy bận rộn với việc mưu sinh cho gia đình và nhiều những trách nhiệm khác nữa, tôi có học từ Chúa Giêsu sẵn sàng đáp ứng khi người khác cần đến tôi không?

- Điểm nào nơi thân xác, trong cuộc sống của tôi và gia đình cần đến sự đụng chạm chữa lành của Đức Giêsu?

III- CẦU NGUYỆN CHO CÁC THÀNH VIÊN MỚI QUA ĐỜI:

1- Đaminh Hoành Văn Hào - Họ nhà xứ Tiên Lục

2- Antôn Nguyễn Thế Mạnh - Họ Trại Kê, xứ An Tràng

3- Tôma Nguyễn Văn Kê - Họ nhà xứ Thường Lệ

4- Giuse Trịnh Văn Cường - Họ nhà xứ Yên Lãng

5- Phêrô Nguyễn Minh Đức - Họ Thư Xá, xứ Dân Trù

6- Tôma Nguyễn văn Đức - Họ Đại Lợi, xứ Phúc Yên

7- Tôma Nguyễn văn Khoát -  Họ Đại Lợi, xứ Phúc Yên

8- Tôma Nguyễn văn Nhung - Họ Đại Lợi, xứ Phúc Yên

IV- HỌC TẬP:

KINH THÁNH: SÁCH GHI LỜI CHÚA

"Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng và có ích cho việc giảng dạy" (2 Tm 3,16). "Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô" (Thánh Giêrônimô).

ĐỨC KITÔ, LỜI DUY NHẤT CỦA THIÊN CHÚA

Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn ngỏ lời với nhân loại, để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài (MK 2). Nhưng để con người hiểu biết, đón nhận và đáp trả lời mời gọi của Ngài, Thiên Chúa đã ngỏ lời với họ bằng chính ngôn ngữ của nhân loại cũng như sau này Lời của Chúa Cha hằng hữu đến với con người bằng cách trở nên giống như loài người, mang vào mình nỗi yếu đuối của xác thịt nhân loại (MK 13). Kinh Thánh chứa đựng lời ngỏ của Thiên Chúa, trải dài trong suốt chiều dài lịch sử một dân tộc và được viết dưới nhiều hình thức khác nhau do nhiều tác giả nhân loại. Tuy nhiên, xuyên qua mọi lời được viết trong Kinh Thánh, Thiên Chúa chỉ nói một Lời duy nhất, Chúa Kitô chính là LỜI DUY NHẤT của Thiên Chúa. Lời "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu Người vẫn hướng về Thiên Chúa" (Ga 1,1-2). Lời "đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1,14), đến nỗi "ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha" (Ga 14,9). Thánh Âu-tinh đã diễn tả chân lý đó cách tuyệt vời "anh em hãy nhớ rằng cũng một Lời đó của Thiên Chúa được trải ra trong toàn bộ Kinh Thánh, cũng một Lời đó vang dội trên môi miệng tất cả các văn sĩ Kinh Thánh, vì từ khởi thủy Lời là Thiên Chúa và ở bên cạnh Thiên Chúa". Chính vì thế, Hội Thánh "luôn luôn tôn kính Kinh Thánh như chính thân thể Chúa, nhứt là trong Phụng Vụ thánh. Hội Thánh không ngừng lấy Bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu" (MK 21).

Lm. Đặc trách HTGĐGPBN

Fx. Nguyễn Văn Huân

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2023

 

HOA MÂN CÔI    

Tháng 09 / 2023

*******

        Ý nguyện:  Trong tháng này, chị em hãy cầu nguyện cho những người đang sống bên lề xã hội, trong những điều kiện tồi tệ, không bị các tổ chức bác ái xã hội bỏ quên và loại trừ.

I - LỜI CHÚA :   Xin đọc Tin Mừng  Mt 1,1-16. 18-23

II. GỢI Ý SUY NIỆM:

Khi mừng lễ sinh nhật Đức Mẹ, Giáo hội mời gọi chúng ta đọc lại gia phả của Chúa Giêsu, để thấy rằng; trong suốt chiều dài lịch sử, Thiên Chúa đã tuyển chọn một gia tộc rất đặc biệt để chuẩn bị cho Con Chúa nhập thể làm người.

Trong bản Gia phả ấy có nhắc tới hình ảnh bốn người phụ nữ là các bà: Tama; Rút; Ra kháp và vợ ông Urigia là một điều kỳ lạ. Bởi vì trong xã hội Dothái cũng giống như thời phong kiến ở Việt Nam. Người phụ nữ chẳng có vị thế gì trong xã hội cả. Cho nên ngườ ta mới nói rằng: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Rất may cho chị em sinh vào thời này, giá mà sinh vào thời ấy, chị em cũng bị xem thường vậy thôi. Rồi trong phép lạ hóa bánh ra nhiều cũng vậy: 5 ngàn đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ.

Nhưng trong bản Gia phả của Chúa Giêsu có kể tới những người phụ nữ như thế là để tiên báo một cách kín đáo về Đấng Cứu Thế sẽ đến để cứu chuộc những người tội lỗi, và đón nhận mọi dân mọi nước vào vương quốc của Người. Việc tuyển chọn 4 phụ nữ trong bản Gia phả này không phải là điều đáng tự hào, vì lý lịch của họ chẳng có gì tốt đẹp. Nhưng con đường của Thiên Chúa khác với suy nghĩ của loài người. Người chọn những gì là yếu kém để biểu dương sức mạnh và lượng từ bi cao cả của Người.

 Đây là một “gia phả của đức tin và ân sủng”, là vì gia phả này được đan dệt bằng những con người tội lỗi và những kẻ gian ác, nhưng lịch sử ấy lại là lịch sử của tình thương Thiên Chúa, được chính Thiên Chúa can thiệp đúng lúc, đúng giờ. Thiên Chúa đã viết lên lịch sử ấy bằng những nét đặc biệt, khác thường. Cái đặc biệt nhất vẫn là Thiên Chúa đã không bỏ rơi một nhân loại tội lỗi, phản bội Ngài. Ngài không làm ngơ trước sự đau khổ và tội lỗi của họ. Thiên Chúa đã hành xử thật tốt đẹp với từng con người. Chính vì một thế giới tội lỗi mà Mẹ Maria đã được sinh ra để cưu mang Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian.

Mẹ Maria đã làm loé lên niềm hy vọng cho một trần gian đang lầm than, tội lỗi. Mẹ đã điểm tô cho một lịch sử đã bị nguyên tổ làm lu mờ vì tội bất tuân Thiên Chúa. Mẹ đã làm cho lịch sử hồi sinh khi ông bà nguyên tổ làm hoen ố vì tội lỗi. Nhân loại đáng lẽ bị đắm chìm trong sự chết, nhưng Mẹ đã khai mở sự sống viên mãn trong Chúa Kitô, Con của Mẹ.

Hôm nay là lễ sinh nhật của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và cũng là Mẹ của chúng ta, chúng ta không thể không vui, và cùng nhau chúc mừng tuổi Mẹ. Ngày này phải là ngày vui chung của toàn thế giới, chứ không phải riêng cho dân tộc Dothái hay một nhóm người nào. Bởi ngày sinh của Mẹ có liên quan trực tiếp đến biến cố Ngôi Lời Nhập Thể. Ngày Mẹ chào đời đánh dấu sự nối kết đất trời, nối kết giữa hai thời Tân - Cựu ước, chấm dứt thời kỳ mong đợi bởi lời hứa và khai mở một thời kỳ mới, thời kỳ ân sủng và ơn cứu độ được thực hiện trong Đức Kitô. Do đó, Mẹ thật xứng đáng làm cho chúng ta vui mừng, như chúng ta vẫn đọc trong kinh cầu khẩn Mẹ.

Quả thật, ngày lễ sinh nhật của Mẹ đã khai mở lời hứa của Thiên Chúa bước đầu thành sự, đồng thời Mẹ là Nữ Tử Sion, là hy vọng của nhân loại. Mẹ ra đời để làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Có ngày sinh nhật của Mẹ, mới có sự ra đời của Chúa Giêsu, có Chúa Giêsu mới có Đấng Cứu độ nhân loại.

Như vậy, ngày sinh nhật của Mẹ đã được đặt vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, cứu độ. Mẹ như Sao mai dẫn lối đưa đường, Mẹ chính là hừng đông, là ánh bình minh báo trước Mặt trời công chính là Đức Kitô xuất hiện.

Vì thế trong ngày Đức Maria chào đời Giáo hội đã kêu lên rằng: “Ôi lạy Mẹ! Ngày sinh của Mẹ đã đem lại cho thế giới sứ điệp vui mừng và hy vọng. Vì Đức Kitô, Chúa chúng con là Mặt trời soi đường ngay nẻo chính đã từ cung lòng Mẹ sinh ra, Ngài là Đấng huỷ bỏ lời chúc dữ, đem lại muôn phúc lành, Đấng tiêu diệt thần chết và ban phúc trường sinh.”

Thánh Gioan Đamas đã dâng lời ca tụng rằng: “Hết thảy mọi người hãy đến, chúng ta hân hoan mừng ngày sinh ra niềm vui sướng của cả thế giới ! Hôm nay đây, từ một bản tính thế trần, một thiên đàng đã thành hình dưới thế. Hôm nay đây, việc cứu rỗi đã bắt đầu cho thế giới!”

Vậy, hôm nay, mọi loài trên trời dưới đất hãy cùng nhau hoan hỷ và đồng ca, nhảy múa biểu lộ niềm vui của bất cứ tạo vật nào ở trên trần gian hãy họp nhau mừng lễ. Quả thật, hôm nay thánh điện của Đấng tạo thành muôn vật đã được xây lên trong một thọ tạo vì một lý do mới mẻ và thích đáng, đã được chuẩn bị làm nơi cư trú mới cho Đấng Hoá Công.

Khi mừng sinh nhật nhau, chúng ta thường tặng nhau những bó hoa, những món quà, những chiếc bánh Gatô. Mừng ngày sinh nhật của Mẹ hôm nay, Chúng ta hãy hái những hoa thiêng nhân đức mừng kính Mẹ để tỏ lòng mến yêu Mẹ bằng những kinh nguyện chân thành kính dâng lên Mẹ.

 

Những đóa hoa thiêng ấy chính là những việc hy sinh hãm mình của chúng ta. Những hoa thiêng ấy chắc chắn sẽ làm vui lòng Mẹ.  Nhất là chúng ta hãy tiếp tục làm những việc lành phúc đức để dâng kính Mẹ như; lần hạt Mân Côi, đọc kinh Truyền tin, năng suy ngắm về mẫu gương cuộc đời Mẹ và đem ra thực hành trong đời sống hàng ngày, để cuộc đời của Mẹ, vốn đã trở nên một với cuộc đời của Đức Giêsu cũng được thể thể hiện trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.

Mừng lễ sinh nhật Mẹ Maria hôm nay, chúng ta hãy hiệp cùng Giáo Hội ca ngợi, tung hô Mẹ. Với những lời chúc tốt lành nhất để mừng chúc tuổi Đức Mẹ. Xin Đức Mẹ giúp chúng ta luôn biết noi gương Mẹ, biết đáp lời “xin vâng” trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, để thánh ý Chúa được thực hiện trọn vẹn trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Amen.

III - GỢI Ý SỐNG VÀ CHIA SẺ 

1.    Ngày sinh nhật của Mẹ, đem niềm cho toàn thể thế giới. Hoà chung niềm vui ấy, tôi đã lấy hoa thiêng gì để dâng kính Mẹ?

2.    Cuộc đời Mẹ phải là khuôn mẫu cho cuộc đời tôi. Hàng ngày tôi có noi đòi bắt chước gương nhân đức của Mẹ không ?

3.    Tôi cũng đã được sinh ra trên trần thế, tôi phải làm gì để khỏi bị Chúa khiển trách như Giu đa: “thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn” ?

          * Cầu nguyện cho chị em đã được Chúa gọi về trong tháng.

1 - Maria Nguyễn Thị Huệ, giáo họ Đại Lợi, Giáo xứ Phúc Yên

2 - Maria Nguyễn Thị Thập, giáo họ Đại Lợi, Giáo xứ Phúc Yên

3 - Anna Thân Thị Sót, giáo họ nhà xứ, Giáo xứ Thiết Nham

*Lưu ý: Thứ bảy, ngày 30/09/2023, theo lịch phân công, Giáo hạt Thái Nguyên sẽ tập trung tại TTTM Từ Phong lúc 16h30 để gặp gỡ, học hỏi, chia sẻ, 17h30 cơm chiều. 18h30: dâng hoa kính Đức Mẹ. 19h0giờ030: Thánh lễ.

                                                             Lm. Phêrô Mai Viết Thắng

                                                                  Đặc trách Hội Mân Côi

                                                                    Giáo Phận Bắc Ninh.

 

 

HỘI TRƯỞNG GIA ĐÌNH GPBN – Tháng 9/2023

I- LỜI CHÚA: Lc 4,38-44

II- SUY NIỆM:

Bài Tin Mừng thánh Luca kể lại cho chúng ta một ngày làm việc của Chúa. Theo nhịp sống ấy, Đức Giêsu hiện lên là một Đấng chữa lành đầy uy quyền. Sau khi giảng dạy ở hội đường Caphácnaum, chính Người đã dùng những lời lẽ đầy uy quyền mà trục xuất ma quỷ khỏi một người đàn ông (Lc 4, 31-37). Khi ra khỏi hội đường, Người đến nhà mẹ vợ ông Simon Phêrô và thấy bà đang bị sốt nặng. Đức Giêsu đã cúi xuống và đến gần bà, rồi ra lệnh cho cơn sốt biến khỏi người phụ nữ ấy. Trong căn phòng nhỏ bé của nhà ông Simon, Đức Giêsu không chỉ đứng đó và dùng một lời để ra lệnh cho cơn sốt như Người đã xua trừ ma quỷ, nhưng Người đã cúi xuống và lại gần người bệnh. Có lẽ chỉ bằng một lời, Đức Giêsu cũng có thể chữa lành cho người ấy, nhưng Người đã khiêm nhường cúi xuống với con người, lại gần hơn với những đau khổ của người khổ đau.

Chiều đến, Đức Giêsu còn chữa lành hết những ai đau yếu với đủ thứ bệnh hoạn được đưa đến với Người. Cũng vậy, Người không tập trung tất cả mọi người lại, rồi lớn tiếng ra lệnh cho các bệnh tật biến mất, nhưng Người đã đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. Một lần nữa, Đức Giêsu muốn chạm đến và cảm nhận nỗi đau của từng người một. Người không lạm dụng một chút nào về quyền năng hay ra oai với uy lực của mình, nhưng Người không chỉ muốn giải thoát họ khỏi những nỗi đau đớn về thể xác mà còn thấu hiểu những đớn đau ấy của từng người.

Giờ đây, Đức Giêsu cũng đang rất muốn chữa lành những nỗi khổ đau của ta. Người sẽ đến và đụng chạm tới từng người một, và chữa lành những vết thương ấy cho từng người chúng ta. Nhờ đó, ta có thể cảm nhận được phần nào tình yêu thương và lòng thương xót của Người dành cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta. Hơn nữa, chính khi cảm nhận được sự chữa lành, ta cũng được mời gọi trở thành những người chữa lành vết thương cho người khác theo lối hành xử của Thầy Giêsu. Với thái độ khiêm nhường, Người muốn ta lưu tâm đến những con người ấy, cúi xuống, chạm đến họ, lắng nghe họ, cảm thông với họ, thậm chí còn có thể chữa lành những nỗi đau của họ về tinh thần cũng như vật chất.

Quyền năng chữa lành ấy tới từ đâu? Đức Giêsu đã ra nơi hoang vắng. Người đã làm gì? Ắt hẳn, Người đến để gặp Cha trên trời và kín múc nguồn sức mạnh ở nơi ấy. Đức Giêsu vẫn luôn giữ mối liên kết với Cha của Người trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là nhận lãnh quyền uy vô tận của Chúa Cha. Và Người cũng mời gọi mỗi người chúng ta cũng hãy kín múc nguồn sức mạnh ấy nơi Thiên Chúa là Cha của mọi người, của mỗi người, và giữ mối liên hệ khăng khít với Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, giữa những bộn bề tất bật của cuộc sống, giữa những lo toan của cuộc đời, xin giúp mỗi trưởng gia chúng con biết chạy đến với Chúa là nguồn an ủi và chữa lành hết thảy chúng con. Nhờ đó, các gia trưởng cũng biết mang tình yêu của Người đến cho những người xung quanh, nhất là những người khô khan, những người đang đau khổ, khó khăn, thiếu thốn phần hồn phần xác.

* Gợi ý suy niệm và chia sẻ:

- Tuy bận rộn với việc mưu sinh cho gia đình và nhiều những trách nhiệm khác nữa, tôi có học từ Chúa Giêsu sẵn sàng đáp ứng khi người khác cần đến tôi không?

- Điểm nào nơi thân xác, trong cuộc sống của tôi và gia đình cần đến sự đụng chạm chữa lành của Đức Giêsu?

III- CẦU NGUYỆN CHO CÁC THÀNH VIÊN MỚI QUA ĐỜI:

1- Đaminh Hoành Văn Hào - Họ nhà xứ Tiên Lục

2- Antôn Nguyễn Thế Mạnh - Họ Trại Kê, xứ An Tràng

3- Tôma Nguyễn Văn Kê - Họ nhà xứ Thường Lệ

4- Giuse Trịnh Văn Cường - Họ nhà xứ Yên Lãng

5- Phêrô Nguyễn Minh Đức - Họ Thư Xá, xứ Dân Trù

6- Tôma Nguyễn văn Đức - Họ Đại Lợi, xứ Phúc Yên

7- Tôma Nguyễn văn Khoát -  Họ Đại Lợi, xứ Phúc Yên

8- Tôma Nguyễn văn Nhung - Họ Đại Lợi, xứ Phúc Yên

IV- HỌC TẬP:

KINH THÁNH: SÁCH GHI LỜI CHÚA

"Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng và có ích cho việc giảng dạy" (2 Tm 3,16). "Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô" (Thánh Giêrônimô).

ĐỨC KITÔ, LỜI DUY NHẤT CỦA THIÊN CHÚA

Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn ngỏ lời với nhân loại, để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài (MK 2). Nhưng để con người hiểu biết, đón nhận và đáp trả lời mời gọi của Ngài, Thiên Chúa đã ngỏ lời với họ bằng chính ngôn ngữ của nhân loại cũng như sau này Lời của Chúa Cha hằng hữu đến với con người bằng cách trở nên giống như loài người, mang vào mình nỗi yếu đuối của xác thịt nhân loại (MK 13). Kinh Thánh chứa đựng lời ngỏ của Thiên Chúa, trải dài trong suốt chiều dài lịch sử một dân tộc và được viết dưới nhiều hình thức khác nhau do nhiều tác giả nhân loại. Tuy nhiên, xuyên qua mọi lời được viết trong Kinh Thánh, Thiên Chúa chỉ nói một Lời duy nhất, Chúa Kitô chính là LỜI DUY NHẤT của Thiên Chúa. Lời "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu Người vẫn hướng về Thiên Chúa" (Ga 1,1-2). Lời "đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1,14), đến nỗi "ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha" (Ga 14,9). Thánh Âu-tinh đã diễn tả chân lý đó cách tuyệt vời "anh em hãy nhớ rằng cũng một Lời đó của Thiên Chúa được trải ra trong toàn bộ Kinh Thánh, cũng một Lời đó vang dội trên môi miệng tất cả các văn sĩ Kinh Thánh, vì từ khởi thủy Lời là Thiên Chúa và ở bên cạnh Thiên Chúa". Chính vì thế, Hội Thánh "luôn luôn tôn kính Kinh Thánh như chính thân thể Chúa, nhứt là trong Phụng Vụ thánh. Hội Thánh không ngừng lấy Bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu" (MK 21).             

                                          Lm. Đặc trách HTGĐGPBN

                                               Fx. Nguyễn Văn Huân