Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

 

Buổi huấn đức của cha Giuse Nguyễn Văn Tĩnh (C.Ss.R) với các Chú Nhà Thánh Tự

Chiều ngày 26/09/2023, Nhà Ứng sinh thánh Phêrô Tự hân hoan chào đón cha Giuse Nguyễn Văn Tĩnh (C.Ss.R) về thăm và huấn đức các chú nhà thánh Tự. Cha Giuse hiện đang làm cha xứ giáo xứ Bắc Kạn và là bề trên dòng Chúa Cứu Thế tại giáo phận Bắc Ninh.

Trong giờ huấn đức, cha Giuse đã chia sẻ với các chú về tình yêu và đức ái cần có của người linh mục (đức ái mục tử, đức ái thừa sai và đức ái tông đồ).

Cha Giuse cũng chia sẻ về kinh nghiệm mục vụ truyền giáo nơi vùng đất Bắc Kạn đầy những khó khăn và thách đố. Cha còn nhắc nhở các chú phải biết noi gương theo đời sống của Thánh Anphongsô – đấng sáng lập dòng Chúa Cứu Thế: hãy ra đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khó và những người bị bỏ rơi, trước hết là trong chính nơi mình đang ở, học tập và mục vụ.

Sau cùng, cha nhắc nhở các chú phải biết giữ đời sống của mình theo sự vâng phục:  “Vâng phục là một cách hủy mình”.

Buổi huấn đức kết thúc trong niềm vui và ân sủng của Thiên Chúa.

Joseph Văn Quý

 

HỘI TRƯỞNG GIA ĐÌNH GPBN - 10/2023

(Đọc bằng điện thoại)

I- LỜI CHÚA: Lc 9, 57-62

II- SUY NIỆM:

Trong văn hóa Đông Phương, đạo có nghĩa là đường, theo đạo có nghĩa là theo một con đường. Theo nghĩa này, theo đạo Công Giáo là đi theo con đường của Thiên Chúa. Nhưng ý nghĩa ấy còn vượt xa hơn nữa bởi Đức Giêsu không chỉ là người dẫn đường mà chính Người cũng là đường, là đạo. Vậy theo đạo là đi theo Đức Giêsu, sống đạo tức là sống như Chúa, sống cho Chúa và trong Chúa. Thật vậy, theo đạo và sống đạo không hề dễ dàng chút nào, nhất là trong bối cảnh ngày hôm nay. Thánh Luca đã minh chứng rõ nét những đòi buộc của Đức Giêsu khó khăn như thế nào. Ba người trong trình thuật hôm nay đều có những nỗi trăn trở riêng, nhưng Đức Giêsu đã chỉ cho họ đâu mới thực sự là theo đạo, là sống đạo.

- Đối với người đầu tiên, Đức Giêsu đã thẳng thắn đáp lại sự hăng hái của anh trước hoàn cảnh bấp bênh của Người: “… nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” Thân phận “bèo dạt mây trôi”, “ba chìm bảy nổi” của người môn đệ đã được Đức Giêsu cảnh tỉnh. Chính Người cũng sống phiêu bạt, nay đây mai đó, không chỗ trú thân, lúc nào cũng trong tư thế “lên đường”. Chấp nhận bước theo Chúa là chịu bỏ mọi an toàn, ổn định, là sống thân phận lữ khách trên cõi đời này. Cuộc sống “trên đường” ấy khiến cho Người tự do hơn và luôn trong tâm thế ứng trực trước sứ mạng của Chúa Cha, của trần gian.

- Người thứ hai lại phải xin phép cho về chôn cất cha anh ta trước khi theo Chúa. Chôn cất cha mẹ là một việc bổn phận đạo hiếu thiêng liêng của những người làm con. Đức Giêsu cũng rất coi trọng việc thảo kính cha mẹ. Thế nhưng, đối với Người, việc ra đi loan báo Tin mừng là một bổn phận thiêng liêng cấp bách hơn. Ngài đòi buộc anh ta phải dành ưu tiên cho bổn phận này hơn hết.

- Người thứ ba chấp thuận theo Chúa với điều kiện cho anh về từ giã gia đình trước đã. Đối với người này, Đức Giêsu, một lần nữa, mời gọi anh ta phải dứt khoát hơn nữa một khi đã “tra tay vào cày.” Anh phải dứt khoát ra đi, chứ không còn vấn vương với những hoài niệm quá khứ, những lo toan, những ràng buộc của gia đình nữa, để tận tâm cho Nước Trời.

Thánh Luca không trình bày họ là những ai, và cuối cùng, họ có bước theo Chúa hay không; nên dường như ta sẽ dễ dàng thấy mình nơi hình ảnh của những con người ấy. Trước một xã hội đầy những bộn bề lo toan, ta có rất nhiều chọn lựa và ta phải lựa chọn. Đó là chấp nhận hy sinh điều này mà đón nhận điều kia. Hôm nay, Đức Giêsu không dạy ta sống bất hiếu với cha mẹ, vô cảm với người đã khuất, hay thậm chí là lãng quên gia đình,… nhưng Người dạy ta phải can đảm trong việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Đôi khi đó không phải là lựa chọn nữa, mà là ưu tiên số một của mỗi người chúng ta với tư cách là người Kitô hữu. 

Lạy Chúa Giêsu, trong thân phận làm người, anh em chúng con là trưởng gia đình nhiều khi vẫn còn vấn vương nhiều thứ bộn bề trong cuộc sống gia đình và xã hội, mà lãng quên bổn phận thiêng liêng hàng đầu của chúng con là gì. Xin Chúa giúp mỗi trưởng gia chúng con hiểu hơn và sống can đảm hơn với lời mời gọi loan báo Tin Mừng trong đời sống hàng ngày.  

* Gợi ý suy niệm và chia sẻ:

- Có điều gì mà Thiên Chúa đang mời gọi mỗi chúng ta, và đâu là những khó khăn, thách thức của bạn để đáp lời xin vâng?  

- Điều gì là ưu tiên số một trong cuộc sống của tôi, liệu Thiên Chúa có được ưu tiên không?

III- CẦU NGUYỆN CHO CÁC THÀNH VIÊN MỚI QUA ĐỜI:

1- Giuse Phạm Văn Nhâm - Họ nhà xứ Thiết Nham

2- Giuse Nguyễn Ngọc Thanh - Giáo họ Thanh Giã

3- Ông Vinh Sơn Đỗ Lương Hảo - Họ nhà xứ Nam Viên

4- Giuse Nguyễn Văn Thịnh - Họ Nghĩa La, xứ Lai Tê

5- Gioan Nguyễn Văn Đích - Họ nhà xứ Tiểu Lễ

6- Giuse Nguyễn Xuân Bính - Họ nhà xứ Tân cương

7- Giuse Phạm Văn Đức - Họ nhà xứ Yên Lãng

8- Giuse Vũ Văn Sỹ - Nhà xứ Đức Bản

9- Đaminh Nguyễn Xuân Đông - Nhà xứ Đức Bản

10- Vinh Sơn Nguyễn Văn Mùi - Họ Đông Trai, xứ Đức Bản

11- Phêrô Bùi Văn Cù - Họ nhà xứ Tân Bình

12- Augúttinô Cao Văn Cát - Họ nhà xứ Tân Bình

13- Giuse Nguyễn Văn Chiền – Họ nhà xứ Vinh Tiến

14- Phaolô Lê Văn Tiếu - Họ Bạch Hạc, xứ Hòa Loan


IV- HỌC TẬP:

KINH THÁNH: SÁCH GHI LỜI CHÚA (tt)

LINH ỨNG VÀ CHÂN LÝ KINH THÁNH

Nhìn từ bình diện nhân loại, Kinh Thánh là tổng hợp những tác phẩm của nhiều tác giả nhân loại. Họ là những con người cụ thể, sống trong một thời đại cụ thể, với những vấn đề của thời đại và có những khả năng riêng biệt. Tuy nhiên khi đọc Kinh Thánh, người tín hữu lại tuyên xưng "Đó là Lời Chúa" (1 Tx 2,13). Vì họ xác tín rằng chính Thiên Chúa là Tác Giả của Kinh Thánh. Chính Thiên Chúa là Tác Giả của Kinh Thánh. Tuy nhiên, "để viết các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ trong khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực, tất cả những gì Chúa muốn và chỉ viết những điều đó mà thôi" (MK 11). Hành động đó của Thiên Chúa được gọi là LINH HỨNG và "Những gì Thiên Chúa mặc khải mà Kinh Thánh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự lính hứng của Chúa Thánh Thần" (MK 11). Vì thế nên "Phải công nhận rằng Kinh Thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa muốn Kinh Thánh ghi lại vì phần rỗi chúng ta" (MK 11).

Lm. Đặc trách HTGĐ GPBN

Fx. Nguyễn Văn Huân

                                          ĐỨC THÁNH CHA TIẾP KIẾN CHUNG
                                                                    Ngày 27.09.2023
ĐỊA TRUNG HẢI KHÔNG ĐƯỢC LÀ NẤM MỒ, NHƯNG LÀ NƠI XÂY DỰNG NỀN VĂN MINH VÀ HÒA BÌNH
Vatican News
Vatican News (27.09.2023) – Chia sẻ với các tín hữu tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 27/9/2023, Đức Thánh Cha nói rằng có một giấc mơ và thách đố chung là giúp Địa Trung Hải phục hồi ơn gọi của nó: chiếc nôi của nền văn minh, sự sống và hòa bình.
Đức Thánh Cha vừa thăm thành phố Marseille ở miền nam nước Pháp vào cuối tuần vừa qua nhân dịp kết thúc “Cuộc gặp gỡ Địa Trung Hải”, một sự kiện được tổ chức tại Marseille từ ngày 17 đến 24/9/2023. Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô vào sáng thứ Tư 27/9/2023, Đức Thánh Cha đã chia sẻ với các tín hữu hiện diện về giấc mơ và thách đố chung là giúp Địa Trung Hải phục hồi ơn gọi của nó: chiếc nôi của nền văn minh, sự sống và hòa bình. Ngài nói rằng hiện tượng di cư là một dấu chỉ của thời đại và nó kêu gọi chúng ta lựa chọn giữa sự thờ ơ và tình huynh đệ.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng chúng ta cần một cái nhìn về Địa Trung Hải để giúp chúng ta khơi dậy niềm hy vọng trong xã hội của chúng ta, và đặc biệt là nơi các thế hệ mới. Sự kiện ở Marseille đã cho chúng ta thấy một viễn cảnh nhân đạo và đầy hy vọng. Một cái nhìn nhân bản, nghĩa là, có khả năng quy chiếu mọi sự về giá trị hàng đầu của con người và phẩm giá bất khả xâm phạm của họ. Và một cái nhìn hy vọng, với những kinh nghiệm và khuôn mặt cụ thể, khuyến khích chúng ta xây dựng các mối quan hệ huynh đệ và tình bạn xã hội. Đức Thánh Cha mời gọi hành động để mọi người, với trọn vẹn phẩm giá, có thể chọn di cư hay không di cư.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Địa Trung Hải: nơi xây dựng nền văn minh và hòa bình
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Vào cuối tuần trước, tôi đã đến Marseille nhân dịp bế mạc sự kiện "Các cuộc Gặp gỡ Địa Trung Hải", một sự kiện có sự tham dự của các Giám mục và Thị trưởng khu vực Địa Trung Hải, cùng với nhiều người trẻ, để cái nhìn của họ hướng tới tương lai. Thật vậy, sự kiện ở Marseille được mang tên “Bức tranh khảm của hy vọng”. Đây là một giấc mơ, đây là một thách thức: Địa Trung Hải phải phục hồi ơn gọi của nó, trở thành nơi xây dựng nền văn minh và hòa bình.
Địa Trung Hải là cái nôi của nền văn minh và cái nôi cho sự sống! Thật không thể chấp nhận được nếu nó trở thành nấm mồ, và nó cũng không thể là nơi xung đột. Không. Biển Địa Trung Hải là nơi hoàn toàn trái ngược với sự xung đột giữa các nền văn minh, chiến tranh và nạn buôn người. Hoàn toàn ngược lại: Địa Trung Hải là phương tiện liên lạc giữa Châu Phi, Châu Á và Châu Âu; phía bắc và phía nam, phía đông và phía tây; con người và các nền văn hóa, các dân tộc và ngôn ngữ, triết học và tôn giáo. Tất nhiên, biển luôn là một vực thẳm cần phải vượt qua, thậm chí nó có thể trở nên nguy hiểm. Nhưng nước của nó bảo vệ kho báu của sự sống, sóng và gió của nó mang theo đủ loại thuyền.
Di dân: dấu chỉ của thời đại
Cách đây hai ngàn năm, từ bờ biển phía đông của Địa Trung Hải, Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô đã lên đường để loan báo cho mọi dân tộc rằng chúng ta là con của cùng một Cha ở trên trời và sự chung sống công bằng và hòa bình của con người là có thể. Tất nhiên, điều này không xảy ra bằng phép thuật và không thể đạt được một lần và mãi mãi. Đó là kết quả của một cuộc hành trình trong đó mỗi thế hệ được mời gọi đi một chặng đường dài, bằng cách đọc những dấu chỉ của thời đại họ đang sống.
Đức Thánh Cha nói tiếp: Cuộc gặp gỡ ở Marseille diễn ra sau những cuộc gặp gỡ tương tự đã được tổ chức ở Bari vào năm 2020 và ở Firenze vào năm ngoái. Đó không phải là một sự kiện biệt lập, mà là một bước tiến của một hành trình, bắt đầu từ cuộc "Hội thảo Địa Trung Hải" do Thị trưởng Giorgio La Pira tổ chức tại Florence vào cuối những năm 1950. Hôm nay, nó là một bước tiến để đáp lại lời kêu gọi do Thánh Phaolô VI đưa ra trong Thông điệp Populorum Progressio của ngài, nhằm thúc đẩy “một thế giới nhân đạo hơn cho tất cả mọi người, một thế giới trong đó mọi người đều có thứ gì đó để cho và nhận, nơi mà sự tiến bộ của một số người không được mua bằng sự thiệt hại của người khác” (số 44).
Cái nhìn nhân đạo và hy vọng
Điều gì nảy sinh từ sự kiện ở Marseille? Điều nảy sinh là một cái nhìn về Địa Trung Hải, điều mà tôi định nghĩa cách đơn giản là lòng nhân đạo, phi ý thức hệ, không chiến lược, không đúng về mặt chính trị cũng như công cụ; nó có tính nhân đạo, nghĩa là có khả năng quy mọi thứ về giá trị hàng đầu của con người và của phẩm giá bất khả xâm phạm của họ. Và đồng thời một cái nhìn hy vọng xuất hiện. Điều này luôn gây ngạc nhiên: khi bạn lắng nghe những nhân chứng đã sống trong những hoàn cảnh vô nhân đạo hoặc những người đã chia sẻ chúng, và từ họ bạn nhận được “lời tuyên xưng của niềm hy vọng.” Và cũng là cái nhìn của tình huynh đệ.
Thưa anh chị em, niềm hy vọng này, tình huynh đệ này không được “bốc hơi”, không, trái lại nó phải được tổ chức, cụ thể hóa bằng những hành động dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, để mọi người, với đầy đủ phẩm giá, có thể lựa chọn di cư hoặc không di cư. Địa Trung Hải phải là một thông điệp hy vọng.
Khôi phục lại niềm hy vọng cho các xã hội châu Âu
Nhưng còn có một khía cạnh bổ sung khác: chúng ta cần khôi phục lại niềm hy vọng cho các xã hội châu Âu, đặc biệt là cho các thế hệ mới. Thực ra, làm sao chúng ta có thể chào đón người khác nếu trước tiên chúng ta không có một chân trời rộng mở hướng tới tương lai? Làm thế nào những người trẻ thiếu hy vọng, khép kín trong đời sống riêng tư, lo lắng về việc giải quyết tình trạng bấp bênh của mình, có thể cởi mở gặp gỡ và chia sẻ? Các xã hội của chúng ta đang bị bệnh chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu dùng và những lối thoát trống rỗng cần phải cởi mở, tâm hồn và tinh thần của họ cần được cung cấp oxy, và khi đó họ sẽ có thể coi cuộc khủng hoảng là một cơ hội và đối mặt với nó một cách tích cực.
Châu Âu cần tìm lại niềm đam mê và lòng nhiệt thành
​Châu Âu cần tìm lại niềm đam mê và lòng nhiệt thành, và tôi có thể nói rằng tôi đã tìm thấy chúng ở Marseille: nơi vị Mục tử của nó là Đức Hồng Y Aveline, nơi các linh mục và tu sĩ, nơi các giáo dân dấn thân vào hoạt động bác ái, trong hoạt động giáo dục, nơi dân Chúa, những người đã thể hiện sự nồng nhiệt tuyệt vời trong Thánh lễ tại Sân vận động Vélodrome. Tôi xin cảm ơn tất cả họ và Tổng thống nước Cộng hòa, người với sự hiện diện của mình đã chứng tỏ sự chú ý của toàn thể nước Pháp đối với sự kiện ở Marseille. Xin Đức Mẹ, mà người dân Marseille tôn kính là Notre Dame de la Garde, đồng hành cùng cuộc hành trình của các dân tộc Địa Trung Hải, để khu vực này trở thành điều mà nó luôn được kêu gọi trở thành: một bức tranh khảm của nền văn minh và niềm hy vọng.
Buổi tiếp kiến kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
Nguồn: vaticannews.va/vi

giaoxutancuongbogspot.com:  Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ...

giaoxutancuongbogspot.com:  Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ...:   Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ Quốc ngữ Ngày đăng: 28/09/2022 Phù điêu trên nhà thờ Hội An tái hiện hình ảnh các giáo s...

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

 

Các giáo sỹ Công giáo và quá trình hình thành chữ Quốc ngữ
Ngày đăng: 28/09/2022
Phù điêu trên nhà thờ Hội An tái hiện hình ảnh các giáo sĩ nước ngoài đến Đàng Trong giảng đạo trên con thuyền vượt biển
Quá trình ra đời và hoàn thiện chữ Quốc ngữ được các nhà nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ cho rằng kéo dài khoảng 300 năm, từ đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, công lao sơ khởi có sự đóng góp to lớn của nhiều giáo sỹ Công giáo phương Tây với các quốc tịch khác nhau. Giai đoạn hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ phải nói đến các nhà trí thức, giới cầm quyền như các nhà thông dịch, báo chí, giáo dục, ngôn ngữ, in ấn… người Việt và người Pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi giới thiệu về quá trình ra đời chữ Quốc ngữ buổi sơ khai.


Quá trình truyền giáo của Công giáo tại Việt Nam trong yêu cầu khách quan của việc ra đời chữ Quốc ngữ

Theo chính sử, Công giáo được truyền đến Việt Nam vào năm 1533 bởi các giáo sỹ phương Tây, tuy nhiên trên thực tế và các tài liệu của phía giáo hội cũng ghi nhận công việc này chỉ thực sự đạt hiệu quả vào đầu thế kỷ 17 gắn với việc truyền giáo bằng tiếng Việt được La tinh hóa của các giáo sỹ. Nửa cuối thế kỷ 16, các giáo sĩ thừa sai Dòng Tên (Jésu) đã bắt đầu đến châu Á truyền đạo. Một trong những nơi họ đến sớm nhất là Trung Quốc, nơi mà trước đó vài thế kỷ, Maco Polo, nhà buôn, nhà thám hiểm người Ý, đã đến và mang về nhiều thông tin, sản vật của phương Đông làm cho người châu Âu hết sức bất ngờ.

Dòng Tên là một dòng tu trí thức của đạo Công giáo, tất cả những giáo sĩ của dòng này đều có trình độ khá cao về nhiều lĩnh qua việc đào tạo chuyên sâu về nhiều lĩnh vực, được cấp bằng sắc và sát hạch trình độ, nếu ai không đạt được buộc phải rời dòng. Những giáo sĩ này xuất thân từ những nước sử dụng chữ viết La tinh nên khi đến những nước sử dụng chữ tượng hình đã gặp khó khăn trong việc truyền đạo. Do là những người trí thức có trình độ cao, họ nhanh chóng học nói tiếng của người bản địa ở các nơi họ đến truyền đạo.

Việc truyền đạo không chỉ cần tiếng nói là đủ, mà cần phải có chữ viết, kinh sách để các con chiên (tín đồ) có thể đọc kinh sách bởi không có giáo sĩ, thầy giảng nào có thể thay thế kinh sách. Thực tiễn người Việt hầu như không biết chữ (trước thế kỷ 20) bởi nhiều lý do trong đó có lý do bởi dùng chữ tượng hình (Hán, Nôm) rất khó học, mất rất nhiều thời gian mới có thể đọc sách được, chưa nói đến việc dịch lại kinh sách nước ngoài. Mặt khác, việc truyền đạo Công giáo vào các nước phương Đông ở thời điểm ấy không phải lúc nào cũng dễ dàng do tùy thuộc vào quan điểm của quan lại địa phương, tình hình chính sự của quốc gia mà các giáo sĩ phương Tây đặt chân đến. Để có thể truyền lại kinh sách một cách tốt hơn, các giáo sĩ đã nghĩ ra phương pháp "La tinh hóa chữ tượng hình",  họ đã làm việc này ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản.

Trong các thế kỷ từ 15 đến 17, các thương buôn người Bồ Đào Nha có mặt hầu như khắp thế giới. Theo chân họ là những nhà truyền giáo, phần lớn là người Bồ và người Ý, tháp tùng truyền đạo ở những vùng đất mới. Theo thống kê có đến 145 giáo sĩ thuộc 17 quốc tịch đến Đàng Trong truyền giáo từ năm 1615-1788, trong đó có đến 74 người Bồ Đào Nha, 30 người Ý. Dòng Tên (Jesu) của đạo Công giáo là dòng tu đẩy mạnh việc đi truyền đạo thời kỳ này. Theo luật của dòng, mỗi khi đến vùng đất mới phải học tiếng địa phương, với tài năng riêng từng người, họ đã La tinh hóa tiếng nói và chữ viết địa phương để những người theo đạo có thể đọc được những kinh sách của đạo. Thứ chữ La tinh này được truyền lại cho các giáo sĩ đến sau để tiếp tục công cuộc truyền giáo. Đây là phương thức mà họ đã thực hiện ở nhiều nơi như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản... trước khi đến Việt Nam. Riêng ở Viễn Đông, dòng tu này thiết lập một trụ sở lớn và lâu dài ở Ma Cao (Trung Quốc) để làm nơi đi và đến cho các giáo sĩ.

Đầu thế kỷ 17, năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên đã đến Đàng Trong của Việt Nam (từ Quảng Bình trở vào) và bắt đầu học tiếng Việt, bắt tay vào việc La tinh hóa chữ Việt. Tài liệu viết tay của giáo sĩ João Roiz (người Bồ) viết năm 1621 đã có các chữ quốc ngữ ban đầu như An Nam (Việt Nam tức Đàng Trong), Sinoa (xứ Hóa tức Thuận Hóa), unsai (ông sãi), Cacham (Kẻ Chàm, sau này là Thanh Chiêm), ungue (ông nghè)...

Như vậy, tới năm 1621, việc La tinh hóa tiếng Việt vẫn chưa có dấu thanh. Tài liệu viết tay của giáo sĩ Antonio de Fontes, một học trò của Francesco de Pina, viết năm 1626 đã thấy xuất hiện dấu thanh. Dĩgcham (Dinh Chàm), Núocman (Nước Mặn), Sinúa (xứ Hóa), ondedóc (ông đề đốc), nhít la khấu, khấu la nhít (nhứt là không, không là nhứt). Gần đây khi tìm thấy di cảo của Pina ở Thư viện Hoàng gia Bồ Đào Nha giữa năm 2018 thì chữ quốc ngữ đã có dấu như ngày nay. Tài liệu này trưng bày trong Hội thảo về chữ Quốc ngữ diễn ra tại Lisbon Bồ Đào Nha vào tháng 7-2018.

Sau 400 năm chữ Quốc ngữ hình thành và phát triển nhưng lịch sử của nó không phải ai cũng biết rõ công lao của những người sáng tạo, ai là tác giả, xuất phát từ địa danh nào, lưu giữ truyền bá thế nào, lúc nào được sử dụng phổ thông… Hiện nay giới chuyên môn đã ghi nhận nhóm "tác giả" của chữ quốc ngữ gồm các giáo sĩ Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa (người Bồ Đào Nha), Cristoforo Borri (người Ý), Alexandre de Rhodes (người Pháp). Giáo sĩ Borri chỉ ở nước ta ba năm từ 1615 đến 1618. Còn ba giáo sĩ còn lại đều đến Đàng Trong năm 1624 và đều là học trò tiếng Việt của giáo sĩ Francesco de Pina. Tuy nhiên, trong số này, chỉ có giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) cho in cuốn sách tiếng Việt đầu tiên là cuốn Từ điển Việt - Bồ - La , tiếp đến là các công trình như: “Phép giảng Tám ngày”, “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài”, “Hành trình truyền giáo”… nên được nhiều người và giới truyền thông thường nhắc tới là "ông tổ" của chữ Quốc ngữ từ hàng thế kỷ qua.

Như vậy, có thể khẳng định rằng chữ Quốc ngữ ra đời có một quá trình dài từ năm 1618 cho đến 1625 với sự hợp tác của nhiều người chứ không chỉ một người. Đa số "tác giả" của chữ Quốc ngữ đều là người Bồ Đào Nha, người Ý cùng với một số người Việt theo Công giáo góp sức. Người được xác định "giỏi tiếng Việt nhất" và có công lớn nhất trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ sớm nhất chính là giáo sĩ Francesco de Pina người Bồ Đào Nha.

Khái lược cuộc đời người có công với chữ Quốc ngữ

1. Francesco De Pina sanh tại thành Guarda, Bồ Đào Nha khoảng năm 1585, gia nhập Dòng Tên vào năm 19 tuổi, sau đó đến xứ Goa (Ấn Độ) sống ít lâu trước khi sang Trung Quốc truyền đạo. Năm 1611, ông theo học tại Học viện Ma Cao (Collège de Macau) về khoa học xã hội, thần học và tiếng Nhật. Năm 1617, ông thụ phong linh mục và được cử đến Đàng Trong làm việc  và cư tại trú ở Hội An. Qua năm 1618, Pina đến cư trú tại Nước Mặn (Bình Định) với Buzomi và Borri, người Ý. Năm 1619, ông đến Thanh Chiêm (Quảng Nam) mua đất dựng nhà thờ và năm 1623 thành lập cơ sở ở Thanh Chiêm. Pina chết đuối trên bờ biển Quảng Nam ngày 15-12-1625. Lý do tàu Bồ Đào Nha từ Campuchia về Ma Cao, bỏ neo ở hải phận Quảng Nam, gần Cù Lao Chàm, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tàu để lấy các đồ phụng sự nhưng khi trở vào bờ, bất ngờ gió bão nổi lên, thuyền lật, Pina vì vướng áo chùng không bơi được nên chết đuối. Hiện nay ngôi mộ ông được được cho rằng ở sau nhà thờ Phước Kiều (nay là nhà thờ Thánh Andre), thuộc thôn Thanh Chiêm 1, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đây là nhà thờ do chính ông thành lập khi đến cư trú tại Thanh Chiêm và là nơi trú ngụ của nhiều giáo sĩ khác, trong đó có Alexandre de Rhodes.

2. Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon thuộc lãnh địa Giáo hoàng (nay ở miền nam nước Pháp), trong một gia đình khá giả. Ông sinh năm 1591 (có nguồn khác sinh năm 1593), tổ tiên ông tới từ vùng AragónTây Ban Nha sang tị nạn dưới bóng Giáo hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo hoàng. Sau khi hoàn thành trung học tại quê nhà, ông vào Nhà tập Dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, học thiên văn và toán học. Thời kỳ này, công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển nhưng cũng gặp sự kháng cự của các chính quyền sở tại. Trong bối cảnh đó, Alexandre de Rhodes đã xin và được giáo sĩ cấp trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản rồi Trung Quốc.  

Tháng 12 năm 1624, Alexandre cùng với bốn linh mục Dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản cập bến Hội An (Quảng Nam). Ông bắt đầu học tiếng Việt từ giáo sĩ Francisco de Pina, người đã đến Đàng Trong trước ông 7 năm và là nhà truyền giáo thông thạo tiếng Việt nhất, khi đó Pina cũng đang phát triển cách ghi âm tiếng Việt bằng ký tự La tinh. Từ đó Việt Nam trở thành nơi truyền giáo của Alexandre de Rhodes, nhưng có nhiều lý do, trong vòng 20 năm ông bị trục xuất đến năm lần. Năm 1645 là lần cuối cùng ông rời Việt Nam và tháng 6 năm 1649 ông trở về đến châu Âu, tại đây ông xuất bản hai cuốn sách do mình biên soạn năm 1651. Alexandre de Rhodes vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc truyền giáo tại châu Á, đã xin Tòa Thánh gửi các Giám mục truyền giáo đến Viễn Đông, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thầy giảng bản xứ. Năm 1655, ông được bề trên cử tới Ba Tư truyền giáo (Iran). Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Isfahan (Iran), sau khi ông chết, thi thể của ông được chôn cất tại chính nơi đây.


Quá trình in ấn các công trình ký tự hóa tiếng Việt

Sau khi Pina mất, một học trò tiếng Việt của ông là giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong năm 1624, đã mang tất cả những di cảo của thầy đưa về Ma Cao vào năm 1626. Tại Ma Cao Alexandre de Rhodes và cộng sự đã nghiên cứu chữ Quốc ngữ và đã soạn thảo hai cuốn tự điển Việt-Bồ-La và Bồ-Việt. Cộng sự của Alexandre de Rhodes là hai giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa cư trú ở Ma Cao gần 10 năm. Đáng tiếc là công trình của họ chưa kịp công bố thì tháng 2-1646 Gaspar mất trên đường biển đi đến nước ta và sau đó một năm thì Barbosa cũng mất vì bệnh.

Trong lời nói đầu cuốn Từ điển Việt - Bồ - La của mình, Alexandre de Rhodes có nhắc đến việc "tham khảo" tài liệu của hai giáo sĩ trên, điều đó cho thấy Alexandre de Rhodes đã thừa hưởng những di sản được người khác sáng tạo ra để góp phần hoàn thành cuốn từ điển có tiếng Việt đầu tiên trên thế giới. Điều đáng tiếc là hiện nay vẫn chưa tìm thấy hai cuốn tự điển của Gaspar và Barbosa đã viết. Hy vọng số phận của nó giống như cuốn từ điển của Bá Đa Lộc, tưởng đã cháy mất trong một trận hỏa hoạn ở Cà Mau nhưng lại được tìm thấy vào thập niên 1980. Sau khi rời khỏi Việt Nam năm 1645, Alexxander de Rhodes trở lại Ma Cao rồi trở về Roma và cho xuất bản cuốn từ điển Việt - Bồ - La năm 1651 tại xưởng in của Vatican. Ngoài cuốn từ  điển nêu trên Alexxander de Rhodes còn có các công trình khác bằng tiếng Việt như:  “Phép giảng Tám ngày”, “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài”, “Hành trình truyền giáo”…


Các nhà truyền giáo phương Tây đã làm một điều thật kỳ diệu là đã chuyển tiếng nói của người Việt Nam ra chữ viết theo hệ La tinh. Theo lịch sử các quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ như trên thì chính Francisco de Pina mới là cha đẻ của chữ Quốc ngữ. Trong khi Alexander De Rhodes là người học trò của ông, biên soạn, hoàn thiện tiếp theo dựa trên “bộ khung” mà Pina thiết kế và hoàn thiện, phổ biến qua việc in ấn, soạn một số bài giảng, từ điển, sách… bằng chữ Quốc ngữ. 

Cũng cần nói thêm là ngoài các giáo sĩ Dòng Tên nêu trên còn có các giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris như Lambret la Motte (1659-1679), Luy Laneun (1680-1682), Culielm Mahot (1682-1684), Francisco Perez(1684-1728), Carola Marino Lable (1697-1723), Alexandro de Alexandris (1726-1738), Juan Valere Rist (1735-1737) đều có những đóng góp trong việc truyền bá chữ quốc ngữ thông qua việc truyền giáo.  

Từ những thông tin trên cho chúng ta thấy nhà thờ Hội An là nhà thờ công giáo đầu tiên tại Việt Nam (Giáo xứ Hội An được thành lập năm 1615). Dinh Trấn Thanh Chiêm (xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam) là cái nôi hình thành chữ Quốc ngữ, giáo sĩ Francisco de Pina là người đầu tiên nghiên cứu chuyển tiếng nói người Việt ra mẫu tự La tinh để hình thành chữ Quốc ngữ buổi sơ khai.

Sau hơn 200 năm hình thành, chữ Quốc ngữ đã được các nhà tri thức Việt Nam (nhà văn, nhà báo, nhà cải cách xã hội, quan chức…) đẩy mạnh việc truyền bá đến đông đảo người dân gắn với báo chí, nhà in, trường học… Tiêu biểu ở phía Nam có tờ Gia Định báo ra đời 1865 (tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên), Lục tỉnh Tân văn… gắn với các ông Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của… Tiếp theo là các tờ báo ở phía Bắc như: Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, Nam Phong… gắn với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… Thông qua báo chí, việc đẩy mạnh truyền bá chữ Quốc ngữ cùng với trường học, nhà in, văn học… mà số người biết về chữ Quốc ngữ tăng nhanh.

Chữ Quốc ngữ ra đời đã góp phần hình thành chữ viết chính thống của người Việt, thúc đẩy cho nền hành chính quốc gia phát triển, nhất là sau khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (1945) đã lấy chữ Quốc ngữ là chữ viết chính thống. Chữ Quốc ngữ khi trở thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia thì được phổ cập đến toàn dân bằng nhiều hình thức, góp phần xóa nạn mù chữ phổ biến trong xã hội cũ (giai đoạn trước 1945) bởi việc dễ học hơn chữ Hán, Nôm. Việc phổ biến chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ 20, nhất là qua việc mở trường dạy học bằng chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) đã tạo ra giới trí thức người Việt đông đảo, dân trí người Việt được nâng cao, nghề báo, in ấn, giáo dục, văn chương… được thuận lợi, phát triển, xã hội ngày càng văn minh hơn../.














 



Một ngày sống trong Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội


 




Một ngày sống trong Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội


 


 TÔNG ĐỒ CẦU NGUYỆN, NGÀY 26/09/2023

CÙNG CHÚA GIÊ-SU BUỔI SÁNG

​Gia đình của Chúa Giê-su.

Bình minh tới, con lại có thêm cơ hội để tìm kiếm sự thánh thiện. Ai là anh chị em của Chúa Giêsu? Tin Mừng hôm nay trả lời: "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8,19-21). Rõ ràng, gia đình Chúa Giê-su là những ai lắng nghe và tuân giữ lời Chúa. Con suy ngẫm về cách để thêm gắn bó với Chúa Giê-su, tập trung lắng nghe và áp dụng lời Chúa vào đời sống. Quyết tâm của con trong ngày hôm nay chính là trở nên gắn bó hơn với mọi người trong gia đình của Chúa. Lạy Cha chúng con..

— ∞  +  ∞ —

CÙNG CHÚA GIÊ-SU TRONG NGÀY

​Sống Lời Chúa. Con dành chút thời gian tới bên Chúa Giêsu. Làm một Kitô Hữu và lan truyền Tin Mừng cứu độ liệu có dễ dàng? Con ngẫm về những trải nghiệm và những lời chứng của mình. ĐGH Phanxicô khẳng định "Mặt khác, thực hành những gì được nghe là không hề đơn giản, bởi vì sống thảnh thơi không bận tâm tuân giữ lời Chúa thì dễ hơn rất nhiều." Liệu con đã tuân giữ luật Chúa đầy đủ chưa? Con có cố gắng sống theo các mối phúc trong đời sống hằng ngày chưa? Con hứa sẽ chú ý lắng nghe và thực hành lời Chúa hơn. Con dâng lời cầu nguyện theo ý chỉ tháng này.

— ∞  +  ∞ —

CÙNG CHÚA GIÊ-SU BUỔI TỐI

​Con cảm tạ Chúa đã cho con sống một ngày bình an. Ngài đã đồng hành với con tới tận lúc này, tình yêu và sự thiện hảo của Ngài nâng đỡ con. Con biết ơn vì những nụ cười con đã nhận và đã trao đi, vì những người Ngài cho con gặp và phục vụ trong hôm nay. Tạ ơn Chúa đã ban cho con công việc và của ăn hằng ngày. Xin thứ lỗi cho những lần con cằn nhằn, tức tối, và chưa biết cách đón nhận mệt mỏi trong niềm vui. Con muốn sống theo Đức Tin để đời sống của con làm chứng về Ngài. Mong sao việc con làm thể hiện được điều con tin. Lạy Chúa, xin giúp con sống Lời Chúa ngày một nhiều hơn. Kính mừng Maria...

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023


 


 

 

                                           THỨ TƯ LỄ TRO: NHỮNG CÂU HỎI ĐÁP

                                                                                                 20 / 02/ 2023,         04:02:29

 Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro là gì?

Đáp: Thứ Tư Lễ Tro là ngày bắt đầu Mùa Chay, cách Thứ Sáu Tuần Thánh 40 ngày.

Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro có dựa trên một lễ hội ngoại giáo không?

Đáp: Không. Thứ Tư Lễ Tro bắt nguồn từ những năm 900 Công nguyên, rất lâu sau khi Châu Âu đã được Kitô giáo hóa và các phụng thờ ngoại giáo bị dập tắt.

Hỏi: Tại sao gọi là Thứ Tư Lễ Tro?

Đ: Thực ra, Thứ Tư Lễ Tro là tên thông dụng. Tên chính thức của nó là “Ngày của tro” (Dies Cinerum). Nó được gọi là “Thứ Tư Lễ Tro” vì bốn mươi ngày trước Thứ Sáu Tuần Thánh luôn rơi vào Thứ Tư đồng thời vào ngày đó các tín hữu sẽ bôi tro lên trán theo hình thánh giá.

Hỏi: Tại sao xức tro dấu thánh giá trên trán?

Đáp: Vì trong Kinh thánh, đánh dấu trên trán tượng trưng cho quyền sở hữu của một người. Khi ghi dấu thánh giá trên trán, điều này nói lên rằng người đó thuộc về Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết trên Thánh giá.

Đây cũng là điều bắt chước dấu ấn thiêng liêng hay ấn tín được ghi trên một Kitô hữu trong bí tích rửa tội, khi được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và ma quỷ, trở thành nô lệ của sự công bình và Đức Kitô (Rm 6,3-18).

Đây cũng là bắt chước cách mà sự công chính được mô tả trong sách Khải huyền nói về các tôi tớ của Thiên Chúa (các Kitô hữu được tượng trưng bởi 144.000 nam nhân):

“Xin đừng phá hại đất liền, biển cả và cây cối, trước khi chúng tôi đóng ấn trên trán các tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta” (Kh 7,3)

"Chúng bị cấm không được phá hại cỏ trên mặt đất, mọi loài xanh tươi và mọi cây cối, mà chỉ được phá hại những người không mang ấn của Thiên Chúa trên trán" (Kh 9,4)

“Tôi thấy: kìa Con Chiên đứng trên núi Xion; cùng với Con Chiên, có một trăm bốn mươi bốn ngàn người, mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên ghi trên trán” (Kh 14,1)

Đây là điều ngược lại với những người theo con thú, những người có số 666 trên trán hoặc trên tay.

Tham chiếu đến việc ghi ấn các tôi tớ của Thiên Chúa để bảo vệ họ trong sách Khải Huyền là ám chỉ đến một đoạn song song trong sách Êzekien, nơi có các tôi tớ Thiên Chúa được đóng ấn để bảo vệ họ:

"Hãy rảo khắp thành, khắp Giêrusalem. Hãy ghi dấu chữ thập trên trán (nghĩa đen là một dấu chữ “tav”) những người đang rên siết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xảy ra trong khắp thành." Tôi lại nghe Đức Chúa phán với năm người kia: "Hãy đi theo người ấy vào thành mà chém giết. Đừng nhìn mà thương hại, đừng xót thương. Người già, thanh niên, thiếu nữ, cũng như đàn bà con trẻ, các ngươi hãy giết cho sạch; nhưng tất cả những ai mang dấu trên mình, các ngươi chớ đụng đến. Các ngươi sẽ bắt đầu từ Nơi Thánh của Ta." Và họ đã bắt đầu từ đàn ông, từ người già ở trước Đền Thờ” (Êd 9, 4-6).

Rủi thay, các bản dịch hiện đại đều không ghi đoạn này theo nghĩa đen. Thực sự câu này muốn nói là ghi một dấu chữ “tav” trên trán của những người công chính ở Giêrusalem. Chữ “tav” là một trong những chữ cái của bảng chữ cái tiếng Do Thái và trong chữ viết cổ, nó trông giống như chữ cái “chi” trong tiếng Hy Lạp, là hai gạch “chéo” (giống như chữ "x") và là chữ cái đầu tiên trong từ "Christ" (Kitô) trong tiếng Hy Lạp là “christos” (Χριστός). Các rabbi Do Thái đã giải thích về mối liên hệ giữa “tav” và “chi” và chắc chắn đây là dấu ấn mà sách Khải Huyền muốn nói đến khi các tôi tớ của Thiên Chúa được ghi dấu ấn.

Các Giáo phụ sơ thời đã nắm bắt mối liên hệ giữa “tav-chi”- thập giá – “christos” này và giải thích nó trong các bài giảng của mình, nhìn thấy ở Êzekien một điềm báo tiên tri về việc các Kitô hữu được ghi dấu ấn để làm tôi tớ của Đức Kitô. Đây cũng là một phần nền tảng của tục làm dấu thánh giá nơi người Công giáo, mà trong những thế kỷ đầu (như được ghi chép lại từ thế kỷ thứ hai trở đi) đã được thực hành bằng cách dùng ngón tay cái làm một dấu thánh giá nhỏ trên trán, như người Công giáo làm ngày nay khi đọc Tin Mừng trong Thánh lễ.

Hỏi: Tại sao làm dấu với tro?

Đáp: Bởi vì tro là biểu tượng Kinh Thánh nói về sự than khóc và sám hối. Trong thời Kinh thánh, có phong tục nhịn ăn, mặc áo vải gai, ngồi trong đống tro, và rắc tro lên đầu. Bình thường thì không ai mặc áo gai hay ngồi trong đống tro, nhưng tập tục ăn chay và rắc tro lên trán như một dấu hiệu của sự đau buồn và sám hối vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Đây là hai trong số những điểm chính của Mùa Chay. Thực tế, Thứ Tư Lễ Tro không chỉ là ngày xức tro trên đầu mà còn là ngày ăn chay.

Hỏi: Có ví dụ nào trong Kinh thánh về những người xức bụi tro lên trán?

Đáp: Có những trường hợp sau đây:

“Một người thuộc chi tộc Bengiamin từ mặt trận chạy về, và ngay hôm đó tới Silô, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất” (1 Sm 4, 12)

"Sang ngày thứ ba, có một người từ trại, từ bên vua Saun đến, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. Khi đến gần ông Đavít, anh ta sấp mình xuống đất và sụp lạy" (2 Sm 1, 2)

"Tamar lấy tro bụi rắc lên đầu, xé cái áo chùng dài tay cô đang mặc, đặt tay lên đầu, vừa đi vừa kêu la" (2 Sm 13, 19)

“Khi vua Đavít lên tới đỉnh, nơi người ta thờ lạy Thiên Chúa, thì này ông Khusai, người Ácki, đón gặp vua, áo chùng ông xé rách, đầu thì rắc đất” (2 Sm 15, 32)

Hỏi: Tro còn có ý nghĩa nào khác?

Đáp: Có. Chúng cũng tượng trưng cho cái chết và do đó nhắc nhở chúng ta về tính phải chết của mình. Thế nên, khi vị linh mục dùng ngón tay cái ghi dấu bằng tro cho một tín hữu, ông nói: "Hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về tro bụi", như Thiên Chúa nói với ông Ađam (Stk 3, 19; xem G 34,15, Tv 90,3, 104,29, Gv 3,20). Điều này cũng lặp lại những lời trong lễ an táng, "Tro bụi trở về với tro bụi", dựa trên lời Thiên Chúa nói với ông Ađam trong Sáng thế ký 3 và lời thú nhận của Ápraham, " Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi" (Stk 18, 27). Do đó, đây là lời nhắc nhở về cái chết của chúng ta và nhu cầu phải hối cải trước khi cuộc sống này qua đi và chúng ta đối mặt với vị Thẩm Phán của mình.

Hỏi: Tro được sử dụng vào Thứ Tư Lễ Tro đến từ đâu?

Đ: Từ tro của những lá cọ đã được giữ lại từ Chúa Nhật Lễ Lá của năm trước, sau đó chúng được linh mục làm phép - tro được làm phép đã được sử dụng trong các nghi lễ của Thiên Chúa từ thời Môisê (Ds 19, 9-10, 17 ).

Hỏi: Tại sao lại là tro của Chúa Nhật Lễ Lá năm trước?

Đáp: Vì vào Chúa Nhật Lễ Lá, dân chúng chào mừng sự khải hoàn của Chúa Giêsu khi tiến vào thành Giêrusalem. Họ mừng Ngài bằng cách vẫy những chiếc lá cọ, không nhận ra rằng Ngài đến để chịu chết vì tội lỗi của họ. Khi sử dụng những cành lá từ Chúa Nhật Lễ Lá, đó là một lời nhắc nhở rằng chúng ta không chỉ vui mừng về việc Ngài đến nhưng còn phải hối tiếc rằng tội lỗi của chúng ta đã khiến Ngài phải chết thay để cứu chúng ta khỏi địa ngục.

Hỏi: Có đòi buộc các tín hữu phải xức tro lên trán không?

Đáp: Không, điều này không bắt buộc nhưng được khuyến khích mạnh mẽ vì đây là một lời nhắc thiêng liêng phù hợp và hữu hình, khích lệ người ta nhận lấy thái độ cầu nguyện, ăn năn và khiêm nhường. Như Thánh Giacôbê đã nói: “Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên” (Gc 4, 10).

Hỏi: Thứ Tư Lễ Tro có phải là một ngày lễ buộc, nghĩa là phải dự Thánh lễ?

Đáp: Không, đây không phải là ngày lễ buộc. Tuy nhiên, điều này được khuyến khích vì thích hợp để đánh dấu khởi đầu của Mùa Chay sám hối bằng cách tham dự Thánh lễ. Việc thờ phượng Thiên Chúa cách trang trọng, cùng với cộng đoàn, là một cách tốt đẹp để bắt đầu mùa Chay. Ngoài ra, mặc dù đó không phải là ngày bắt buộc, nhưng đó là ngày ăn chay và kiêng thịt.

Hỏi: Tại sao Thứ Tư Lễ Tro không phải là ngày lễ buộc?

Đáp: Lễ buộc là ngày kỷ niệm các biến cố đặc biệt (chẳng hạn như sự sinh hạ của Đức Kitô hoặc dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh), những người đặc biệt (chẳng hạn như người cha trần thế của Đức Giêsu là Thánh Giuse), hoặc các khái niệm thần học quan trọng (như Vương quyền của Chúa Kitô). Thứ Tư Lễ Tro không kỷ niệm bất kỳ biến cố nào (không có gì đặc biệt xảy ra bốn mươi ngày trước khi bị đóng đinh - ít nhất là chúng ta không biết gì về điều đó), và có thể là gián tiếp tưởng niệm một Ngôi vị (Chúa Kitô) vì đây là  bước khởi đầu để chuẩn bị các cử hành lớn hơn về trong công cuộc cứu độ của Đức Kitô sau đó, và mặc dù Thứ Tư Lễ Tro là ngày thống hối (giống như tất cả các ngày khác của Mùa Chay trừ Chúa Nhật, là những ngày lễ trọng bất kể thời điểm nào trong lịch phụng vụ vì là kỷ niệm sự phục sinh của Đức Kitô), Giáo hội không bao giờ chọn ngày này hay bất cứ ngày nào khác để làm ngày tưởng niệm về sự thống hối.

Tác giả: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính Chuyển ngữ từ: catholicshield.wordpress.com (07.02.2013)
Nguồn: gpquinhon.org (19.02.2023)