SUY NIỆM PHÚC ÂM CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6,54a.60-69)
LỜI CHÚA:
54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời. 60 Nghe rồi, nhiều môn
đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?”61 Nhưng
Đức Giê-su tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo
các ông: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư?62 Vậy
nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?63Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng
có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.
64 Nhưng trong anh em có
những kẻ không tin.” Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào
không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người.65 Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo
anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.”66 Từ
lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.
67 Vậy Đức Giê-su hỏi
Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”68 Ông
Si-môn Phê-rô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy
mới có những lời đem lại sự sống đời đời.69 Phần chúng con, chúng con đã tin và
nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”
BÀI 1: ĐẤNG THÁNH CỦA THIÊN CHÚA
Suy Niệm
Đức Giêsu đã giảng một bài dài sau phép lạ
bánh hóa nhiều.
Ngài tuyên bố: “Chính tôi là bánh đem lại sự
sống” (Ga 6,35).
“Chính tôi là bánh từ trời xuống” (Ga 6,41).
“Chính tôi là bánh hằng sống từ trời xuống”
(Ga 6,51).
Và Ngài hứa: ai tin vào Ngài, ai ăn bánh này
sẽ khỏi phải chết,
nhưng được sống muôn đời (Ga 6,47.51b.58).
Người Do-thái không dễ chấp nhận khi nghe những
lời ấy.
Họ không tin Đức Giêsu là Đấng từ xuống từ trời
vì họ biết rõ gốc gác từ đất của Đức Giêsu
(Ga 6,42).
Họ cũng không tin có thứ bánh đem lại sự sống
vĩnh cửu.
Người Do-thái lại càng bị sốc khi nghe Đức
Giêsu khẳng định:
“Bánh tôi sẽ ban là thịt tôi đây, để thế gian
được sống” (Ga 6,51).
Họ bị sốc vì một người đang sống mà dám tuyên
bố:
“Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì có sự sống
đời đời” (Ga 6,54).
Bởi thế họ tranh cãi với nhau về chuyện vô lý
đó:
“Làm sao ông này có thể cho ta ăn thịt ông được?”
(Ga 6,52).
Ăn thịt và uống máu ông để được sống đời đời
ư? (Ga 6,54).
Quả thật Đức Giêsu đã chấp nhận chết để nhân
loại được sống.
Ngài ban sự sống bằng chính cái chết.
Con Thiên Chúa là Ngôi Lời đã thành người như
ta (Ga 1,14),
có thân xác như ta, có máu và thịt như ta.
Trên thập giá, Ngài đã hiến trao máu và thịt
của mình.
Máu của Ngài đã đổ, và thịt của Ngài chịu bầm
dập nát tan.
Nhưng Đức Giêsu không muốn biến cố thập giá
chỉ xảy ra một lần trên Núi Sọ.
Ngài muốn Hy tế thập giá đó được diễn lại
trong Thánh Lễ mỗi ngày cho chúng ta đến tận
thế.
“Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19).
Trong mỗi Thánh Lễ, Đức Giêsu mời chúng ta:
“Anh em hãy ăn, vì đây là Mình của Thầy,
đây là Thịt của Thầy, bị nộp vì anh em.
Hãy uống vì đây là Máu của Thầy, Máu đổ ra vì
anh em”.
Người Do-thái khó chịu vì những lời Đức Giêsu
nói.
Một số môn đệ đi theo Ngài cũng thấy chướng
tai (Ga 6,60).
Họ xầm xì với nhau và tỏ ra không tin (Ga
6,64).
Họ không tin Ngài là Đấng từ trời xuống,
cũng chẳng tin chuyện “ăn thịt và uống máu”
Ngài
để khỏi phải chết và được sống mãi.
Thế là họ lập tức rút lui, không đi với Ngài
nữa.
Đức Giêsu buồn nhưng chấp nhận sự rút lui
này.
Ngài tôn trọng chọn lựa và quyết định của họ.
Để theo Đức Giêsu, cần được Chúa Cha ban ơn
(Ga 6,65),
nhưng cũng cần con người tự do đáp lại
bằng việc mở lòng ra trước lời của Đức Giêsu,
Lời đó là thần khí và là sự sống (Ga 6,63b).
Nhóm Mười Hai không thuộc nhóm môn đệ trên
đây.
Khi Đức Giêsu hỏi về quyết định của họ: ra đi
hay ở lại,
Simôn Phêrô đã đại diện anh em để nói lên ý cả
nhóm:
Chúng con không thể bỏ Thầy, vì chỉ nơi Thầy
chúng con mới có những lời ban sự sống đời đời
(Ga 6,68).
Sự sống đời đời hay sự sống lại trong ngày
sau hết,
là những điều quý báu mà không ai khác có thể
cho được.
Chúng con tin Thầy có thể cho chúng con
vì Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Ga
6,69).
Thời nào cũng vậy, các môn đệ vẫn bị cám dỗ
rút lui,
không đi với Giêsu nữa, không ở trong Giáo hội
nữa.
Những lời của Chúa Giêsu vẫn là những lời khó
nghe.
Có những câu Lời Chúa như viên đá làm ta bị vấp.
Có những giáo huấn của Giáo Hội thấy khó chấp
nhận
như không được ly dị hay phá thai…
Hơn nữa có những gương xấu trong giới lãnh đạo
Giáo Hội
làm chúng ta hoang mang thất vọng.
Hãy ở lại với Giêsu khi ta nghi ngờ quyền
năng của Ngài,
vì chiến tranh, dịch bệnh và sự dữ tung hoành
trên thế giới;
Hãy ở lại với Hội Thánh ngay khi Hội Thánh ít
thánh nhất.
Ở lại như thế cần có đức tin mạnh mẽ biết
bao!
Xin cho chúng ta dám nói như Phê-rô: “Chúng
con xin ở lại!”
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, con cám ơn
Chúa
về tất cả những điều
Chúa đòi hỏi nơi con trong suốt cuộc đời.
Chúc tụng Chúa về thời
đại con đang sống.
Chúc tụng Chúa về những
giờ phút sướng vui
và những ngày tủi
thân buồn bã.
Chúc tụng Chúa về cả
những gì
Chúa đã không cho con
được hưởng.
Lạy Chúa, xin đừng sa
thải
người tôi tớ bất xứng
và lười biếng của Chúa đây.
Ôi lạy Chúa khôn
ngoan, nhân hậu và yêu thương,
xin đừng đuổi con xa
Chúa.
Xin giữ con để con
luôn phụng sự Chúa trong suốt đời con.
Xin giữ con để con phục
vụ bất cứ điều gì Chúa muốn.
Dù khi mỏi mệt, dù
khi chán chường,
con xin Chúa vẫn luôn
kiên nhẫn,
để không bao giờ mỏi
mệt về con,
và giữ con luôn luôn
phụng sự Chúa.
Xin Chúa đến giúp
con,
ban cho con ơn bắt đầu
và lại bắt đầu,
cho con biết cậy
trông
cả những khi cùng đường
tuyệt vọng,
cho con tin chắc rằng
Chúa sẽ thắng,
một chiến thắng huy hoàng
nơi con.
(Karl Rahner)
BÀI 2: LỜI BAN SỰ SỐNG
Suy Niệm
Chẳng nên ngạc nhiên nếu có lúc đức tin gặp
khủng hoảng.
Cả lịch sử Cựu Ước đong đưa giữa tin và không
tin.
Khi Ðức Giêsu đến, người ta phải đứng trước một
lựa chọn:
tin hay không tin vào Lời Ngài, vào con người
Ngài.
Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy
một kinh nghiệm về khủng hoảng đức tin nơi
chính các môn đệ.
Kinh nghiệm ấy thật gần gũi với con người hôm
nay.
Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?
Ðó là phản ứng của một số môn đệ ngày xưa
khi nghe Thầy Giêsu vén mở căn tính của Thầy.
Họ không tin khi Thầy nói mình từ trời mà xuống
(Ga 6,38),
và Thầy sẽ trở lại nơi Thầy đã ở trước kia
(c.62),
sau khi hiến mình chịu chết cho nhân loại
(c.51)