Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024

 


HỘI TRƯỞNG GIA ĐÌNH GPBN - Tháng 10/2024

I. LỜI CHÚA: Thứ Tư sau CN XXVI TN - Mt 18,1-5.10

II. SUY NIỆM: THIÊN THẦN BẢN MỆNH

Đoạn Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về sự hiện diện đầy yêu thương của Thiên Thần Bản Mệnh trong cuộc sống mỗi người. Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng thiên thần của những trẻ nhỏ luôn chiêm ngưỡng nhan thánh Thiên Chúa, và đồng thời, các ngài cũng luôn bảo vệ và hướng dẫn chúng ta trên con đường trần gian đầy những nguy hiểm và thử thách.

Trong hành trình đời sống trên trần thế này, chúng ta không chỉ gặp phải những thử thách bên ngoài như những khó khăn về vật chất, công việc hay sức khỏe, mà còn phải đối diện với những nguy cơ nội tại. Có những lúc ta dễ dàng bị cám dỗ dừng lại, không dám bước tiếp vì sợ hãi rủi ro hoặc lo lắng về tương lai. Đoạn Tin Mừng nhắc nhở chúng ta đừng coi thường sự hiện diện của Thiên Thần Bản Mệnh, vì các ngài chính là những người bạn đồng hành trung thành được Chúa sai đến để gìn giữ và bảo vệ chúng ta.

Thiên Thần Bản Mệnh không chỉ bảo vệ ta khỏi những nguy hiểm, mà còn giúp chúng ta không đi lạc đường. Trên hành trình đức tin, đôi khi chúng ta bị cuốn vào vòng xoáy của đời sống thế tục, bị những lợi ích trước mắt lôi kéo, dễ dàng quên đi mục tiêu cuối cùng là cuộc sống vĩnh cửu với Chúa. Giống như những chiếc la bàn tinh thần, các thiên thần giúp chúng ta điều chỉnh hướng đi của mình khi ta bắt đầu lạc lối.

Chúa Giêsu cũng khẳng định rằng các thiên thần không chỉ là người bảo vệ chúng ta mà còn là những chiếc cầu nối giữa chúng ta và Thiên Chúa. Các ngài không chỉ ở bên cạnh chúng ta mà còn luôn nhìn thấy Thiên Chúa Cha, mang lại cho chúng ta sự an ủi và bảo đảm rằng chúng ta luôn được quan tâm và yêu thương từ trời cao.

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa vì đã ban cho chúng con những Thiên Thần Bản Mệnh để gìn giữ, bảo vệ và hướng dẫn chúng con trên đường đời. Xin cho mỗi trưởng gia đình chúng con luôn biết lắng nghe và trân trọng sự hiện diện của các ngài, để chúng con không lạc đường và luôn tiến bước trên hành trình đức tin. Chúng con xin dâng lên Chúa lời cầu nguyện này, nhờ lời chuyển cầu của các Thiên Thần Bản Mệnh. Amen.

* Gợi ý suy gẫm và chia sẻ:

1- Tôi có thực sự tin tưởng và cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Thần Bản Mệnh trong cuộc sống của mình chưa?

2- Làm thế nào tôi có thể lắng nghe và để cho Thiên Thần Bản Mệnh hướng dẫn tôi vượt qua những khó khăn trong đời sống đức tin?

III- CẦU NGUYỆN CHO CÁC THÀNH VIÊN MỚI QUA ĐỜI:

1- Giuse Lê Văn Chung - Nhà xứ Tiên Lục

2- Đa Minh Nguyễn Đức Sang - Nhà xứ Tiên Lục

3- Giuse Nguyễn Đức Dinh - Nhà xứ Tiên Lục

4- Inhaxiô Nguyễn Văn Lực - Nhà xứ Mỹ Lộc

5- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Tạo - Nhà xứ Núi Ô

6- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Ái - Nhà xứ Núi Ô

7- Phêrô Vũ Quang Long - Nhà xứ Nam Viên

8- Giuse nguyên văn Tải - Nhà xứ Xuân Hòa

9- Phanxicô Xaviê Đỗ Văn Đệ - Nhà xứ Thường Lệ

10- Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Lan - Họ Lưỡng Quán 1, xứ Trung Xuân.

11- Giuse Trịnh Văn Tiến - Nhà xứ Đồng Chương

12- Giuse Trần Văn Chỉnh - Nhà xứ Thống Nhất

13- Giuse Đàm Văn Quế - Nhà xứ Hoà Loan

IV- HỌC TẬP: GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

ĐỨC TIN CÁ NHÂN VÀ CỘNG ĐOÀN

Không ai có thể tự ban tặng sự sống cho mình và cũng không ai có thể sống một mình, nhưng người ta đón nhận sự sống từ người khác và sống luôn luôn là sống với. Đức tin cũng thế. Một đàng, đức tin là hành vi cá nhân hiểu như lời đáp trả tự do của mỗi người trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Nhưng đàng khác, đức tin là một quà tặng được đón nhận và đến lượt mình phải trao ban cho người khác. Hội Thánh chính là người mẹ trao ban đức tin cho ta. Vì thế, khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy, thừa tác viên hỏi "Con xin gì cùng Hội Thánh Chúa?", người lãnh nhận trả lời "Con xin đức tin... Đức tin mang lại cho con sự sống đời đời" (Sách Nghi Thức Rôma). Và cũng như người mẹ sinh ra con, phải dạy con nói, nhờ đó có thể hiểu biết và tiếp cận thế giới chung quanh. Cũng vậy, Hội Thánh sinh ta ra trong đức tin, đồng thời dạy ta ngôn ngữ đức tin để giúp ta hiểu và đón nhận sự sống đời đời. Những chân lý đức tin mà người mẹ Hội Thánh trao ban và dạy dỗ không phải là những công thức vô hồn, nhưng là phương thế giúp ta đạt đến chính Thiên Chúa và ơn cứu độ muôn đời. Và bởi vì "Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người. Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người" (Ep 4,5-6), nên xuyên qua mọi không gian và thời gian, trong nhiều nền văn hóa khác nhau và bằng nhiều ngôn ngữ của các dân tộc. Hội Thánh chỉ tuyên xưng một đức tin duy nhất.


                          Lm. Đặc trách HTGĐ GPBN

                           Fx. Nguyễn Văn Huân                     


 
ĐIỀU RĂN THỨ X
CHỚ THAM CỦA NGƯỜI
(x. SGLC từ 2534 đến 2557).
"Ngươi không được ham muốn bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17). "Của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó" (Mt 6,21). Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, cướp đoạt và gian lận. Bổ túc cho đòi hỏi nầy, điều răn thứ mười nhắm đến lòng tham, như nguồn gốc của những tội lỗi trên. Như vậy, cả hai điều răn thứ chín và thứ mười nhắm đến ý hướng trong lòng, và tóm kết tất cả các giới răn.


I. Ham muốn bất chính.

Ai đói cũng thèm ăn, ai lạnh cũng mong được sưởi ấm. Ở tự nó, những ham muốn nầy là tốt, vì giúp bảo vệ sự sống. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy con người không giữ được mức độ hợp lý trong những ham muốn nầy. Vì không giữ được mức độ hợp lý nên sinh ra tham lam và ghen tị. Tham lam: là ham mê của cải, và thế lực do của cải đem lại; từ đó có thể làm điều bất công hại đến tài sản người khác. Kinh Thánh còn ghi lại câu chuyện về một người giàu, tuy có vô số chiên cừu, nhưng lại đi bắt con chiên duy nhất của người nghèo để làm tiệc đãi khách (x.2Sm 12,1-4). Cuộc sống hôm nay vẫn đầy dẫy những con người tham lam như thế: những nhà buôn mong hàng hóa khan hiếm và đắt đỏ, những kẻ mong người khác gặp hoạn nạn để thu lợi... Ghen tị: là buồn phiền khi thấy người khác có của cải và ước ao chiếm đoạt. Thánh Âu Tinh coi ghen tị là tội quỉ quái nhất, vì "ghen tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành". Thánh Gioan Kim Khẩu nói quyết liệt hơn: "Chúng ta đấm đá nhau chỉ vì ghen tị... Nếu mọi người đều xâu xé nhau như vậy thì thân thể Chúa Kitô sẽ ra sao? Chúng ta đang làm tan nát Thân Thể Chúa Kitô".

II. Để vượt qua những ham muốn bất chính.

1. Điều chỉnh những ước muốn:

Ở tự nó, ước muốn không phải là điều xấu. Vấn đề là phải điều chỉnh những ước muốn cho đúng đắn. Phải cảnh giác trước sự quyến rũ của những thực tại "ăn thì ngon, trông đẹp mắt và đáng quý" (St 3,6), nhưng lại ẩn chứa bên trong nọc độc của tội lỗi và sự chết. Điều mà người Kitô hữu phải ước muốn là sự toàn thiện, và đặt mình trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Vì thế, Thánh Phaolô nói người tín hữu là người "đã đóng đinh xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê" (Gl 5,24), và ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh Thần (x.ra 8,27).

2. Sống tinh thần nghèo khó:

Mối phúc đầu tiên được Đức Giêsu công bố là "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt 5,3), và Ngài thường xuyên cảnh giác con người trước mối nguy hiểm của tiền bạc (x.Lc 6,24). Sống tinh thần nghèo khó là chọn Chúa làm gia nghiệp của mình, đặt Chúa trên hết mọi sự, và vì thế saün sàng từ bỏ mọi sự vì Đức Giêsu và vì Tin Mừng (x.Mc 8,35). Nhờ đó, trong cuộc sống hằng ngày, người tín hữu "điều khiển tâm tình cho đúng đắn, để việc sử dụng của cải trần gian và lòng quyến luyến sự giàu sang nghịch với tinh thần khó nghèo của Tin Mừng không cản trở họ theo đuổi đức ái trọn hảo (GH 42).

Biết ao ước hạnh phúc đích thực, ta được giải thoát mọi ràng buộc bất chính với của cải trần thế. Và cuối cùng, được chiêm ngắm nhan thánh Chúa và hưởng hạnh phúc bên Ngài

 Bài 19 

CÁC ÐẶC TÍNH CỦA HỘI THÁNH
(x. SGLC từ 0811 đến 0865)

"Ðức Giêsu nói với Phêrô: Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Ðá, trên Tảng Ðá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi" (Mt 16,18). Hội Thánh tiên khởi đã dùng bốn đặc tính được tuyên xưng trong kinh Tin Kính để tự phân biệt với các giáo phái khác. Bốn đặc tính đó là: Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền (x.GH 8). Những đặc tính nầy là hồng ân Chúa Thánh Thần thông ban và chỉ có thể hiểu biết trọn vẹn nhờ đức tin.

I. Hội Thánh duy nhất.

1. Ý nghĩa:

  • Hội Thánh duy nhất trước hết là do nguồn gốc sâu xa của Hội Thánh. Nguồn gốc đó là Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi. Vì Thế "Hội Thánh xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (GH 4).
  • Thứ đến, Hội Thánh duy nhất là do Ðấng sáng lập, Ðức Giêsu Kitô "đã cùng Thập giá để hòa giải mọi người với Thiên Chúa, đã tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể" (MV 78).
  • Cuối cùng, Hội Thánh duy nhất là do Chúa Thánh Thần tác động. Ngài "thực hiện sự thông hiệp kỳ diệu giữa các tín hữu, và liên kết tất cả trong Chúa Kitô cách mật thiết đến nỗi Ngài chính là nguyên lý hiệp nhất của Hội Thánh" (HN 2).


Trên nền tảng đó, Hội Thánh duy nhất vì cùng tuyên xưng một đức tin được đón nhận từ các tông đồ, cùng cử hành một nghi lễ phụng thờ Thiên Chúa và cùng hòa hợp trong tình huynh đệ của gia đình Thiên Chúa (x.HN 2). Chúa Kitô là dấu chỉ hữu hình của sự duy nhất nầy, đồng thời "Ngài đã đặt Phêrô làm Thủ Lãnh các tông đồ và nơi Phêrô, Ngài đã đặt nguyên lý cùng nền tảng vĩnh cửu và hữu hình cho sự hiệp nhất và hiệp thông đức tin" (GH 18).

2. Trách nhiệm xây dựng sự hiệp nhất:

Chúa Kitô chỉ thiết lập một Hội Thánh duy nhất. Tuy nhiên, trong dòng lịch sử, người ta lại chứng kiến tình trạng chia rẽ giữa các Kitô hữu và đây là gương xấu rất lớn trước mặt thế gian. Những rạn nứt chính thức trong sự hiệp nhất của Hội Thánh gồm có:

  • Lạc giáo: cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ về một chân lý phải tin.
  • Bội giáo: chối bỏ toàn diện đức tin Kitô giáo.
  • Ly giáo: từ chối sự tùng phục Ðức Giáo Hoàng hay từ chối sự hiệp thông với các phần tử của Hội Thánh đang thụ quyền Ngài (x.GL 751).


Thể theo nguyện vọng của Ðức Giêsu, Ðấng tha thiết cầu nguyện cho các tín hữu được nên một (x.Ga 17,21), người Kitô hữu phải nỗ lực phục hồi sự hiệp nhất giữa các Hội Thánh Kitô. Chúng ta gọi đó là nỗ lực đại kết. Công Ðồng Vaticanô II thừa nhận các Kitô hữu không công giáo "vì được công chính hóa nhờ đức tin và được tháp nhập vào Chúa Kitô khi chịu Phép Rửa, nên có quyền mang danh Kitô hữu và xứng đáng được con cái trong Hội Thánh Công Giáo nhìn nhận là anh em" (HN 3). Ðây là trách nhiệm của toàn thể Hội Thánh, tín hữu cũng như chủ chăn (x. HN 5). Sự hiệp nhất đó chỉ có thể có được nhờ canh tân Hội Thánh, hoán cải tâm hồn, cầu nguyện chung, hiểu biết lẫn nhau, cộng tác và đối thoại (x.HN 7).

II. Hội Thánh Thánh Thiện.

1. Nền tảng.

Hội Thánh được tuyên xưng là thánh thiện vì "Chúa Kitô đã yêu thương Hội Thánh như hiền thê mình và đã hiến thân để thánh hóa Hội Thánh. Người kết hợp với Hội Thánh như thân thể Người và ban cho dư đầy ơn Thánh Thần" (GH 39).

Thứ đến, vì Thánh Thần ban cho Hội Thánh dồi dào phương tiện cứu rỗi và sự thánh thiện, đó là việc rao giảng Tin Mừng, các bí tích, các nhân đức luân lý, lòng hy sinh phục vụ tha nhân và các đặc sủng (x.GH 48).

Cụ thể hơn, sự thánh thiện của Hội Thánh đã chiếu tỏa ra nơi vô số các vị thánh đã được tuyên phong và trở thành những gương mẫu cho đời sống thánh thiện.


2. Cuộc lữ hành đức tin.

Sự thánh thiện của Hội Thánh là một hành trình tăng trưởng, một cuộc "lữ hành Vượt Qua", chứ không phải là tình trạng tĩnh tọa an toàn. Vì thế, Hội Thánh vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh tẩy mình, và không ngừng theo đuổi con đường sám hối, canh tân (x.GH 8). Các Kitô hữu luôn được khuyên nhủ "Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thực sự sống công chính và thánh thiện" (Ep 4,22-24). Ðiều nầy chứng tỏ "tất cả chúng ta thường hay vấp ngã" (Gc 3,2) và cần đến ơn tha thứ của Thiên Chúa (x.GH 8). Ðồng thời cũng có nghĩa là mọi người trong Hội Thánh đều được mời gọi nên Thánh, và Ðức Ái là tâm điểm của đời sống thánh thiện "Tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của Ðức Ái" (GH 40) vì "Ðức Ái là mối dây liên kết của sự trọn lành, là sự viên mãn của lề luật, nên Ðức Ái chi phối mọi phương thế nên thánh, làm cho chúng hình thành và đạt đến cùng đích. Vì thế, Ðức Ái đối với Thiên Chúa và tha nhân là dấu chỉ người môn đệ chân chính của Chúa Kitô" (GH 42).

III. Hội Thánh Công Giáo

1. Ý nghĩa

Từ "công giáo" ở đây có nghĩa là phổ quát, bao gồm tất cả, toàn thể, và được áp dụng cho Hội Thánh theo hai hướng: Hội Thánh mang tính công giáo vì Chúa Kitô hiện diện trong Hội Thánh, và vì có Chúa Kitô hiện diện, nên nơi Hội Thánh có "đầy đủ phương tiện cứu rỗi" (TG 6). Ðồng thời Hội Thánh là công giáo vì Hội Thánh được Chúa Kitô sai đến với toàn thể nhân loại (x. Mt 28,19).

Mỗi Giáo Hội địa phương đều mang đặc tính công giáo, vì "Hội Thánh Chúa Kitô thực sự hiện diện trong mọi đoàn thể tín hữu địa phương hợp pháp... Chúa Kitô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mác khắp nơi. Và nhờ thần lực của Người, Hội Thánh hiệp thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" (GH 26). Ðặc tính công giáo nầy được thể hiện cách hữu hình và hoàn hảo qua việc các Giáo Hội địa phương hiệp thông với Hội Thánh Rôma.

Tất cả mọi người trên trái đất đều được mời gọi vào sự hiệp nhất công giáo của Hội Thánh, nhưng "họ thuộc về hay hướng tới sự hiệp nhất đó bằng nhiều thể cách khác nhau" (GH 13). Trước hết là các tín hữu công giáo, tức là những người "gia nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Hội Thánh, những ai lãnh Thánh Thần Chúa Kitô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu rỗi được thiết lập trong Hội Thánh; và nhờ các mối liên lạc do việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, việc cai trị của Hội Thánh và sự hiệp thông, họ liên kết với Chúa Kitô trong tổ chức hữu hình mà Người điều khiển nhờ Ðức Giáo Hoàng và các Giám Mục" (GH 14). Tiếp đến là những anh chị em mang danh Kitô hữu nhưng không tuyên xưng đức tin trọn vẹn, hoặc không hiệp thông với Ðấng kế vị thánh Phêrô (x. GH 15). Sau cùng là những anh chị em chưa lãnh nhận Tin Mừng Chúa Kitô, nhưng "cũng được an bài bằng nhiều cách để thuộc về Dân Thiên Chúa" (GH 16). Hội Thánh quan tâm đặc biệt đến anh chị em Do Thái giáo, tiếp đến là Hồi giáo và sau đó là các tôn giáo khác (GH 16).

Trong khung cảnh của Việt Nam nói riêng và Á châu nói chung, miền đất ghi đậm dấu ấn của nhiều truyền thống tôn giáo lâu đời: Ấn giáo, Phật giáo, Khổng giáo... chúng ta cần mang lấy tâm tình của Hội Thánh hôm nay, tức là "không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó". Bởi vì các tôn giáo đó "cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người" (NK 2). Chính vì thế, "những người vô tình không nhận biết Phúc Âm của Chúa Kitô và Hội Thánh, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn Thánh ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì họ có thể được cứu rỗi". Hơn thế nữa, cả "những ai vô tình chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ ràng, nhưng nhờ ơn Chúa, cố gắng sống đời chính trực, thì Chúa Quan Phòng không từ chối ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu rỗi" (GH 16).

2. Trách nhiệm truyền giáo:

Chính trong ý hướng "công giáo" như đã khai triển, mệnh lệnh truyền giáo xuất hiện với tất cả vẻ thúc bách "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19-20). Mệnh lệnh ấy bắt nguồn cách sâu xa từ chính Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, tình yêu cứu độ muốn đưa tất cả mọi người vào sự hiệp thông giữa CHA và CON trong THÁNH THẦN tình yêu (x.TG 2). Tình yêu ấy trở thành động lực thúc đẩy Hội Thánh dấn mình vào công cuộc truyền giáo như thánh Phaolô tâm sự: "Tình yêu Ðức Kitô thôi thúc chúng tôi" (2Cr 5; 14). Vì nếu Hội Thánh tin vào kế hoạch yêu thương và cứu độ dành cho mọi người, thì Hội Thánh phải là cộng đoàn truyền giáo.

Chúa Thánh Thần là tác nhân chính yếu trong sứ vụ của Hội Thánh. Vì thế, để sứ vụ được hoàn thành. Hội Thánh phải được và phải để cho Thánh Thần đưa dẫn vào nẻo đường Chúa Kitô đã đi: con đường vâng phục và nghèo khó, phục vụ và hy sinh đến độ dám hiến dâng mạng sống, như "hạt lúa gieo vào lòng đất nếu chết đi mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24), và "Máu các Thánh Tử Ðạo là hạt giống nẩy sinh các Kitô hữu". (Tertulianô).

IV. Hội Thánh tông truyền

Hội Thánh là tông truyền theo ba ý nghĩa căn bản:

  • Một là vì Ðức Giêsu thiết lập Hội Thánh kiên vững "trên nền tảng các tông đồ" (Ep 2,20);
  • Hai là vì Hội Thánh bảo vệ và truyền thông sứ điệp và chứng tá của các tông đồ (Mt 28, 19,20).
  • Ba là vì Hội Thánh được giáo huấn, thánh hóa và hướng dẫn nhờ các Ðấng kế vị các tông đồ.


Các Tông đồ được Chúa Phục Sinh sai đi: trước hết đến với con cái Ít-ra-en, rồi đến với mọi dân tộc. Nhờ tham dự vào quyền năng của Chúa Kitô, các ông có thể làm cho muôn dân trở nên môn đệ của Ngài, cùng thánh hóa, lãnh đạo họ, như vậy mở rộng Hội Thánh Ngài ra. Các ông trông nom săn sóc Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Chúa mọi ngày cho đến tận thế (x.Mt 28,20; GH 19).

Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần ở trong mình, Hội Thánh bảo vệ giáo huấn lành mạnh của các tông đồ. Giáo huấn đó làm nên kho tàng phong phú của đức tin (x.2Tm 1, 13-14). Những chân lý nầy được trình bầy rõ ràng và đơn giản trong các lời tiền tụng lễ các Tông đồ: "Cha là Mục Tử hằng hữu, không bỏ rơi đoàn chiên của Cha, nhưng nhờ các Tông Ðồ, Cha vẫn luôn giữ gìn che chở. Cha còn hướng dẫn đoàn chiên đó nhờ các ngài là những vị lãnh đạo Cha đã đặt làm mục tử thay thế Con Cha" (Lời Tiền Tụng các Tông Ðồ I).

Hội Thánh tiếp tục được các Tông Ðồ giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn cho đến khi Ðức Kitô trở lại, nhờ những vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục tử là các giám mục, hiệp nhất với Ðấng kế nhiệm thánh Phêrô là mục tử tối cao của Hội Thánh. "Nhờ những vị các tông đồ đặt làm Giám mục, và nhờ những đấng kế vị các ngài cho tới ngày nay, truyền thống Tông Ðồ được biểu lộ và duy trì trên khắp thế giới" (GH 20).

Chúa Kitô đã đào tạo các Tông đồ theo hình thức cộng đoàn mà Ngài đã đặt Phêrô, một người được chọn giữa các ngài, làm thủ lãnh (x.GH 19). Ngày nay, Ðức Gioan Phaolô II đã quả quyết rằng: "Hội Thánh hôm nay đồng tâm nhất trí hơn trong việc phục vụ và trong ý thức tông đồ. Sự hiệp nhất nầy phát sinh từ nguyên tắc "lập đoàn"... Chính Chúa Kitô đã trao phó nguyên tắc lập đoàn cho nhóm mười hai tông đồ, đứng đầu là Phêrô và Ngài thường xuyên trao lại cho Ðoàn các Giám mục. Giám mục đoàn không ngừng gia tăng trên khắp địa cầu nhưng vẫn hiệp nhất với người kế vị thánh Phêrô và ở dưới sự hướng dẫn của Ngài" (ÐCC 5).

V. Sống trong Hội Thánh

Theo truyền thống, Hội Thánh được miêu tả do bốn đặc tính căn bản: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Mỗi đặc tính nầy vừa là một hồng ân vừa là một nhiệm vụ liên kết Hội Thánh với Chúa Kitô.

1. Là những người bước theo Chúa Kitô, và là chi thể của thân thể Ngài là Hội Thánh, chúng ta được mời gọi hoán cải tâm hồn để thắng vượt những chia rẽ (ăn rễ nơi lạc giáo, hồi giáo, ly giáo), và nhất là thắng vượt những đối lập, những cạnh tranh, những bất hòa làm sứt mẻ sự hiệp thông của Dân Chúa.

2. Sự thánh thiện của Hội Thánh là hành trình tinh luyện để trưởng thành theo tầm vóc sung mãn của Chúa Kitô. Chúng ta hãy sống theo chân lý trong tình bác ái và lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Ðấng là Ðầu, tức là Chúa Kitô, Nhờ Ngài mà toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái (Ep 4,15).

3. Hội Thánh còn là "công giáo"nghĩa là phổ quát, là một hồng ân Thiên Chúa ban vì Hội Thánh được sai đi đem muôn dân về cho Chúa Kitô là Ðầu trong sự hiệp nhất với Thánh Thần của Ngài (x. GH 13). Ðây là một nhiệm vụ, vì tất cả Kitô hữu, không trừ ai, đều được kêu gọi truyền giảng Tin Mừng.

4. Chúa Kitô đã xây Hội Thánh trên nền tảng các Tông đồ (Eph 2,20). Ðặc sủng nầy được tiếp tục để các Giám mục kế vị các Tông đồ. Bản tính tông truyền của Hội Thánh phải được mọi tín hữu thực thi. Họ phải tiếp tục sứ mệnh mà Chúa Kitô đã trao phó cho các Tông đồ.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2024

 ỦY BAN PHỤNG TỰ TRẢ LỜI VỀ SÁCH LỄ RÔMA
Ngày 29 tháng 08 năm 2024
Uỷ ban Phụng tự Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận được câu hỏi về Sách Lễ Rôma khi thấy xuất hiện mẫu thiết kế mới của Sách Lễ Rôma đang được phổ biến. Uỷ ban Phụng tự trả lời chính thức như sau:
1. Bản dịch tiếng Việt của Sách Lễ Rôma được phép sử dụng hiện nay là “ấn bản mẫu thứ hai” của Uỷ ban Phụng tự (trực thuộc) Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGM) ban hành năm 1992, cùng với Nghi thức Thánh Lễ được HĐGM ban hành ngày 09 tháng 09 năm 2005 và áp dụng từ lễ Phục Sinh 2006 (16.04.2006).
“Thông cáo về Bản dịch tiếng Việt phần Nghi thức Thánh Lễ (Ordo Missae)” do Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hoà, Chủ tịch HĐGM, ấn ký đã ấn định rằng “không ai được quyền in ấn hay phổ biến các sách Phụng vụ tiếng Việt, nếu không có sự đồng ý của Uỷ ban [Phụng tự]”.
2. Năm 2019, theo hướng dẫn của Tông thư dưới dạng tự sắc Magnum Principium, HĐGM đã phê chuẩn bản dịch mới do Uỷ ban Phụng tự chuyển ngữ và biên soạn. Bản dịch này đã được đệ trình và đang chờ Toà Thánh chuẩn y.
Khi bản dịch này được Toà Thánh chuẩn y, Văn phòng Hội đồng Giám mục sẽ phụ trách in ấn, thông báo và phát hành chính thức.
3. Vì vậy, mẫu thiết kế mới của Sách Lễ Rôma đang được phổ biến không phải là ấn phẩm của Uỷ ban Phụng tự HĐGM.
Uỷ ban Phụng tự Hội đồng Giám mục Việt Nam

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2024

 


 



TÔNG ĐỒ CẦU NGUYỆN, NGÀY 07/09/2024

CÙNG CHÚA GIÊ-SU BUỔI SÁNG

Chúa là Trung Tâm

Con hân hoan dâng lời tạ ơn Chúa vì một ngày sống mới, và mở lòng mình ra để đón nhận ngày hôm nay với một tinh thần phục vụ. Con ngẫm suy về lời Chúa hôm nay: “Con Người làm chủ ngày sa-bát.” (Lc 6,1-5). Xin Chúa cho lời mời gọi này thực sự sống và vang vọng sâu sắc trong trái tim con, thay vì chỉ là hoàn thành bổn phận.

ĐGH Phanxicô nhắc nhở: "Có nhiều Kitô hữu sống nhưng lại không có Chúa Kitô, họ chỉ tìm kiếm các hình thức đạo đức—nhưng Chúa Giêsu lại không chỉ hiện diện ở đó. Và rồi họ bị thiếu mất đi một điều gì đó. Nếu lòng sùng kính của các con dẫn các con đến với Chúa Giêsu, vậy thì tốt. Nhưng nếu các con chỉ dừng lại ở việc sùng kính thì vẫn còn thiếu sót".

Con xin dâng ngày hôm nay lên cho Chúa và để Người làm trung tâm của mọi việc con làm hôm nay.

Con dâng lời cầu nguyện cho những người đang phải chịu đau khổ vì thiên tai.


— ∞  +  ∞ —

CÙNG CHÚA GIÊ-SU TRONG NGÀY

Đôi mắt con trông về Chúa

Con tạm dừng các hoạt động hàng ngày—học tập, làm việc, v.v.—để cân chỉnh lại trái tim và nhìn xem con đã hướng về đâu trong ngày hôm nay. Con có tập trung vào Chúa Giesu và chỉ một mình Người không? Con có cảm thấy rằng mình đang làm việc và sống vì Người hay chưa?

Con suy ngẫm về lời của ĐTC: "Cha mời gọi mỗi người chúng ta hãy đồng hành trên con đường hòa giải này với thế giới đang che chở chúng ta, và tô điểm cho nó bằng chính sự đóng góp của chúng ta, vì cam kết này liên quan đến phẩm giá cá nhân và các giá trị sâu sắc". Khi hướng về Chúa, con tự hỏi bản thân xem liệu mình có thể đóng góp như thế nào để làm cho môi trường trở nên tươi đẹp hơn.

Con dâng lời cầu nguyện theo ý chỉ của tháng, xin cho việc chăm sóc và vun đắp vẻ đẹp của hành tinh này trở thành cam kết chung của tất cả chúng ta.


— ∞  +  ∞ —

CÙNG CHÚA GIÊ-SU BUỔI TỐI

Căn chỉnh Trái tim

Khi màn đêm buông xuống, con chậm rãi dọn dẹp tâm hồn mình để nghỉ ngơi, cùng dành một chút thời gian để suy ngẫm về cảm giác của trái tim mình vào lúc này, và nơi nó đã hướng đến trong suốt cả ngày hôm nay.

Con nhận ra những ân sủng mình đã nhận được hôm nay—Tình yêu của con được phản ánh trong các tương tác của con với người khác, những cử chỉ nhỏ của tình cảm, sự giúp đỡ và quan tâm cả khi cho đi và nhận lại. Vì Chúa đã hiện diện trong mọi khoảnh khắc trong ngày của con, ngay cả những khi buồn bã hay khó chịu.

Xin Chúa tha thứ cho những lúc trái tim con không hoàn toàn hướng về Người. Vào ngày mai, con tìm kiếm ân sủng để đặt trọn niềm tin của con vào Chúa, để Người trở thành trung tâm của ngày sống con.

Lạy Cha chúng con...


Thứ Tư, 4 tháng 9, 2024

 


HỘI TRƯỞNG GIA ĐÌNH GPBN - Tháng 09/2024

I. LỜI CHÚA: - Thứ 4 sau CN XXII TN: Lc 4,38-44.

II. SUY NIỆM:

Hôm nay, Tin mừng mời gọi ta chiêm ngắm phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu trong đời thường. Vào ngày Sa-bát, sau khi vừa giảng dạy và xua trừ ma quỷ trong hội đường, Đức Giêsu lại đến ngay nhà người môn đệ thân tín và chữa lành cho bà mẹ vợ của ông. Khác với khi trừ quỷ, lần này, Người đã tiến lại, cúi xuống, gần bà hơn và ra lệnh cho cơn sốt biến mất. Không chỉ chữa lành mẹ vợ của Phêrô, đông đảo những người đau yếu cũng kéo đến với Người, họ đến với đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền. Người cũng đặt tay lên từng bệnh nhân và chữa cho họ. Dường như việc chữa lành trở nên hết sức bình thường, mộc mạc, bình dị, chứ không mang tính phô diễn một khả năng kỳ vĩ.

Có lẽ đó là cách Thiên Chúa vẫn đang can thiệp vào cuộc sống của mỗi người chúng ta. Ngài đang cố chạm đến mỗi người. Những phép lạ xảy ra không chú trọng đến vẻ kỳ vĩ, lớn lao bề ngoài, mà là những “tác động - đụng chạm” của Thiên Chúa nơi con người, là cuộc tiếp xúc gặp gỡ của con người và Thiên Chúa: Chúa Giêsu cầm tay bà mẹ vợ của thánh Phêrô, Người đặt tay trên các bệnh nhân. Thiên Chúa đã gặp gỡ con người như thế, và Chúa luôn muốn đưa con người đến tình trạng tốt hơn, đến một cuộc sống tốt hơn. Đó là cách Thiên Chúa tác động lên đời sống thường ngày của chúng ta.

Ngang qua những phép lạ này, ta nhận ra Thiên Chúa cũng đã thực hiện bao nhiêu phép lạ trong cuộc sống của ta: những điều may lành ta nhận được hằng ngày, những khó khăn ta có thể vượt qua, những lần thoát hiểm nguy, những lần vượt qua kinh nghiệm đau khổ, những hàn gắn trong gia đình, những chữa lành trong các mối tương quan…, mọi thứ ấy chẳng phải là những can thiệp lạ lùng của Chúa trong đời sống của ta sao? Những điều ấy thật lạ lùng nhưng lại rất đỗi bình dị, thân quen nên dường như ta không thể nhận ra được. Hơn nữa, những phép lạ Chúa thực hiện không phải vì để nổi danh, không phải vì vinh quang, nhưng chỉ vì lòng thương xót dành cho ta. Điều Chúa muốn nơi bà mẹ vợ ông Phêrô là bà được phục hồi và chỗi dậy để đón tiếp, mời Chúa và các môn đệ dùng bữa. Có lẽ Chúa cũng muốn chúng ta, nhờ phép lạ đời thường, ra đi phục vụ những người xung quanh, nhất là những người thân cận, những người cạnh bên, những người trong gia đình, hàng xóm láng giêng của mình.

Lạy Chúa Giêsu, giữa những bộn bề của cuộc sống, giữa những lo toan của cuộc đời, xin giúp mỗi trưởng gia đình chúng con, những con người chểnh mảng, biết nhận ra sự lạ lùng, diệu kỳ nơi những phép lạ rất đỗi bình thường mà Chúa đã và đang thực hiện nơi cuộc đời chúng con. Nhờ thế, chúng con biết mang tình yêu của Người đến với những người xung quanh ngang qua việc dấn thân phục vụ của từng người chúng con.

* Gợi ý suy niệm và chia sẻ:

- Tôi có tin Thiên Chúa đã thực hiện nhiều lần “tác động - đụng chạm” nơi tôi hay không?

- Thiên Chúa đã và đang thực hiện những phép lạ nào trong cuộc đời tôi ngay lúc này?

- Tôi đã gặp gỡ và khám phá ra Thiên Chúa như thế nào ngang qua những phép lạ ấy?

III- CẦU NGUYỆN CHO CÁC THÀNH VIÊN MỚI QUA ĐỜI:

1- Giuse Bùi Minh Cường - Họ Khe Mo, xứ Thái Nguyên

2- Giuse Nguyễn Văn Khanh - Họ La Đao, xứ La Tú

3- Giuse Ngô Văn Hòa - Họ nhà xứ Tân Cương 

4- Phêrô Nguyễn Văn Thọ - Họ Tam Giang, xứ Thái Nguyên

5- Giuse Nguyễn Văn Lác – Họ nhà xứ Đại Lãm

6- Giuse Nguyễn Văn Dầu – Họ nhà xứ Đại Lãm

7- Đaminh Nguyễn Văn Tường – Họ nhà xứ Yên Lễ

8- Giuse Nguyễn Đức Tòng - Họ nhà xứ Tử Nê

9- Giuse Nguyễn văn Tứ - Họ Hương La, xứ Tử Nê

10- Vicentê Nguyễn Văn Doãn - Họ nhà xứ Lập Trí

11- Giuse Nguyễn Văn Hồng - Họ nhà xứ Bến Đông

12- Phêrô Nguyễn Văn Bình - Họ Trung Xuyên, xứ Trung Xuân

13- Giuse Nguyễn Văn Thuận – Nhà xứ Đại Điền

14- Giuse Phan Văn Đoàn - Nhà xứ Yên Mỹ

IV- HỌC TẬP: GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

CON NGƯỜI ĐÁP LỜI THIÊN CHÚA: NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA ĐỨC TIN (tiếp theo)

Cuối cùng, vì đức tin là sự gắn bó toàn diện con người với Thiên Chúa, nên không thể chỉ ngưng lại ở những hiểu biết xuông mà phải dẫn tới hành động. Chính vì thế, thánh Gioan nói đến việc "thực thi chân lý" và thánh Gia-cô-bê gọi "đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết" (Gc 2,17). Người tín hữu luôn luôn tự cảnh giác vì Lời Chúa nói: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu. Những chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi" (Mt 7,21). Đức tin như ta vừa tìm hiểu là đòi hỏi cần thiết để được cứu độ, như Đức Giêsu đã nói với các môn đệ khi Ngài từ cõi chết sống lại "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cứu độ cho mọi loài thọ tạo, Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin, sẽ bị kết án" (Mc 16,15-16). Ơn cứu độ ấy sẽ hoàn thành trong ngày sau hết nhưng ngay từ bây giờ, đức tin cho ta nếm hưởng ánh sánh vĩnh cữu, "bảo đảm cho những điều ta hi vọng" (Dt 11,1). Vì thế, đức tin là khởi điểm của cuộc sống vĩnh hằng.

Lm. Đặc trách HTGĐ GPBN

Fx. Nguyễn Văn Huân



 

HOA MÂN CÔI    

Tháng 09/ 2024

***

Ý nguyện: Trong tháng này, chị em hãy cầu nguyện cho mọi người trên thế giới biết tôn trọng và gìn giữ những chuẩn mực đạo đức. Đừng lạm dụng quyền tự do của con người mà làm đảo lộn những chuẩn mực đạo đức và trật tự trong xã hội. Xin Chúa cho mọi người biết đề cao đời sống tâm linh và những giá trị đạo đức, để định hướng cho sự sống đời đời của mình.     

I . ĐỌC TIN MỪNG    Mt 7, 13-14 (Tin mừng Matthêu chương 7 từ câu 13 đến câu 14. Mọi người đọc chung, đọc chậm rãi ít nhất là 3 lần và tinh lặng ít phút sau mỗi lần đọc).

Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.

13 “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. 14Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.”

II. GỢI Ý CHIA SẺ

1-  Nội dung đoạn Tin mừng trên, Chúa nói về điều gì ?

-  Chúa nói về: Hai loại cửa. Cửa hẹp thì đưa tới sự sống. Trái lại, cửa rộng thì dẫn tới sự chết.  

2-  Qua đoạn Tin mừng trên đây, Chúa nói gì với tôi ?

-  Chúa mời gọi tôi phải ra sức phấn đấu vào qua được cửa hẹp. Vì cửa hẹp thì đưa tới sự sống, còn cửa rộng thì dẫn tới diệt vong. Chúa còn cho tôi thấy rằng: Cửa rộng thì rất đông người đi qua. Trái lại, cửa hẹp thì chẳng mấy ai thiết tha tìm đến để đi vào.

-  Cửa rộng hay cửa hẹp mà Chúa nói ở trên, không phải Ngài bảo tôi hiểu rộng, hẹp theo chiều không gian vật lý, mà là rộng hẹp về khuôn khổ, kỷ luật và những chuẩn mực đạo đức, những phẩm tính thích hợp với Nước Trời mà ta phải thực hiện trong đời sống hàng ngày.

3-  Chúa mời gọi tôi như vậy, tôi đã làm được gì ?

-  Chúa mời gọi như vậy, nhưng thế giới hôm nay, ai cũng muốn sống tự do, không muốn ép mình vào khuôn khổ, kỷ luật, không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ chuẩn mực đạo đức nào. Bởi vì, sống như thế nó sẽ làm cho con người mất đi sự tự do cá nhân.

-  Theo tính tự nhiên, con người rất muốn sống buông thả và không muốn bị ràng buộc vào bất kỳ luật lệ nào, không bị phụ thuộc vào bất kỳ ai và cũng không muốn thần thánh nào kiểm soát lương tâm của mình. Thế nhưng, nếu không có luật lệ, thế giới sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất trật tự và vô tổ chức. Nếu con người sống buông thả, không còn chuẩn mực đạo đức, con người sẽ giống như loài súc vật. Nhiều khi tôi cũng suy nghĩ và muốn sống như thế.

-  Thế giới hôm nay đang dần dần loại bỏ thần linh và bãi bỏ những chuẩn mực đạo đức xã hội ra khỏi đời sống con người. Họ coi sự tự do cá nhân là trên hết và muốn làm gì thì làm miễn là thoả mãn sở thích của mình mà không cần quan tâm tới bất kỳ chuẩn mực đạo đức nào. Nhiều lúc tôi cũng rơi vào tình trang như vậy.

-  Trước đây ăn mặc kín đáo, tránh hở hang. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo cũng dạy các tín hữu về cách ăn mặc, để tránh gây chia trí, gây dịp tội cho người khác. Thế nhưng, nhiều lúc tôi cũng rơi vào trào lưu tục hoá của xã hội, tôi cũng chê bai cách ăn mặc truyền thống là quê mùa, lạc hậu. Nên, nhiều khi tôi cũng ăn mặc thiếu tế nhị, gây chia trí, khó chịu cho người khác.

-  Trước đây xăm trổ thì bị coi là hạng người thuộc giới giang hồ, dân “xã hội”. Bây giờ, lại coi là thời trang, nghệ thuật.

-  Trước đây cắt tóc chỉ cần khác người một chút thôi, thì sẽ bị mọi người chế giễu. Bây giờ một mình một kiểu thì cho là người có bản lĩnh, cá tính…

-  Trong đời sống gia đình, Giáo hội luôn mời gọi vợ chồng sống chung thuỷ, thì ngày nay ly dị, hay sống chung chạ đang là kiểu sống thức thời.

-  Luật Giáo hội cấm phá thai dưới mọi hình thức, trực tiếp hay gián tiếp. Bây giờ, nhiều người Công giáo ủng hộ phá thai và cho rằng đó là quyền của con người.

-  Tại nhiều quốc gia trên thế giới, người ta quan tâm tới súc vật hơn con người. Cụ thể, có những bệnh viện, những siêu thị chỉ dành riêng cho việc chăm sóc thú cưng. Trái lai, những người vô gia cư, những người nghèo sống đầu đường só chợ, thiếu cơm ăn, áo mặc, thuốc men… thì chẳng ai để ý.

-  Hiện thời tại Mỹ, giết một con chó thì bị tù ngay tức khắc, nhưng giết một con người qua hình thức phá thai thì coi đó là quyền hợp pháp của con người. Như thế, mạng con người không bằng con chó sao ?

-  Và còn biết bao nhiêu điều nghịch lý, biến dị khác nữa, nó đang làm băng hoại đạo đức, làm tục hoá sự thánh thiêng và làm đảo lộn tôn ti trật tự xã hội thuộc mọi lãnh vực. Những hình thức đó đang lôi cuốn con người lăn xả vào một cách điên cuồng mà không còn nhận thức được đâu là chuẩn mực đạo đức, đâu là lề luật của Thiên Chúa. Họ sẵn sàng hùa theo. Đây chẳng phải là chen chúc nhau vào qua cửa rộng sao ? Nhiều khi tôi cũng theo trào lưu thế tục để bước vào cửa rộng đó.   

4-  Tôi có quyết tâm thực hành những điều Chúa đòi hỏi tôi không ?

-  Đứng trước những trào lưu tục hoá đang làm đảo lộn về chuẩn mực đạo đức và những sự tự do phóng túng, tự do quá chớn, tôi không thể hùa theo đám đông để bước qua cửa rộng mà dẫn tới diệt vong đời đời.

-  Từ nay, tôi sẽ quyết tâm trỗi dậy để căn chỉnh lại lối sống của tôi cho phù hợp với ý Chúa, với Luật Chúa, luật Giáo hội và với những chuẩn mực đạo đức đã có từ ngàn đời do tiền nhân để lại. Như thế, tôi mới thực sự bắt đầu bước qua cửa hẹp để vào được Nước Trời, nơi mà Chúa đang chờ đợi và mời gọi tôi trở về để hưởng hạnh phúc với Ngài. Amen.     

       * Cầu nguyện cho chị em đã được Chúa gọi về trong tháng.

1- Maria Nguyễn Thị Báo, Giáo họ Đồn Hang, Giáo xứ Vân Cương

2- Maria Nguyễn Thị Bàn, Giáo họ Đại Lợi, Giáo xứ Phúc Yên

3- Maria Nguyễn Thị Nụ, Họ Nhà xứ, Giáo xứ Yên Thịnh

4- Maria Đào Thị Quý, Họ Nhà xứ, Giáo xứ Tân Cương

5- Maria Đào Thị Hồng, giáo họ Đất Đỏ, Giáo xứ Đồng Chương

6- Maria Nguyễn Thị Thanh, Họ Nhà xứ, Giáo xứ Ngô Khê.

7- Maria Mai Thị Liễu, Giáo họ Phú Thịnh, Giáo xứ Yên Thịnh.

*Lưu ý: Vì đầu tháng 10 có lễ Mân Côi, Bảo Trợ Giáo phận, nên Giáo hạt Thái Nguyên sẽ tập trung về TTTM Từ Phong lúc 16h30 Thứ Bảy, ngày 28/09/2024, để học hỏi, chia sẻ Lời Chúa => 18h30 dâng hoa kính Đức Mẹ. => 19h00 Thánh lễ.

                                                                                                      Lm. Phêrô Mai Viết Thắng

                                                                                                          Đặc trách Hội Mân Côi

                                                                                                 Giáo Phận Bắc Ninh.

 

SUY NIỆM PHÚC ÂM CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6,54a.60-69)

LỜI CHÚA:

54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời. 60 Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?”61 Nhưng Đức Giê-su tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư?62 Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?63Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.

64 Nhưng trong anh em có những kẻ không tin.” Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người.65 Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.”66 Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.

67 Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”68 Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.69 Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”

 

BÀI 1: ĐẤNG THÁNH CỦA THIÊN CHÚA

 

Suy Niệm

Đức Giêsu đã giảng một bài dài sau phép lạ bánh hóa nhiều.

Ngài tuyên bố: “Chính tôi là bánh đem lại sự sống” (Ga 6,35).

“Chính tôi là bánh từ trời xuống” (Ga 6,41).

“Chính tôi là bánh hằng sống từ trời xuống” (Ga 6,51).

Và Ngài hứa: ai tin vào Ngài, ai ăn bánh này sẽ khỏi phải chết,

nhưng được sống muôn đời (Ga 6,47.51b.58).

Người Do-thái không dễ chấp nhận khi nghe những lời ấy.

Họ không tin Đức Giêsu là Đấng từ xuống từ trời

vì họ biết rõ gốc gác từ đất của Đức Giêsu (Ga 6,42).

Họ cũng không tin có thứ bánh đem lại sự sống vĩnh cửu.

 

Người Do-thái lại càng bị sốc khi nghe Đức Giêsu khẳng định:

“Bánh tôi sẽ ban là thịt tôi đây, để thế gian được sống” (Ga 6,51).

Họ bị sốc vì một người đang sống mà dám tuyên bố:

“Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì có sự sống đời đời” (Ga 6,54).

Bởi thế họ tranh cãi với nhau về chuyện vô lý đó:

“Làm sao ông này có thể cho ta ăn thịt ông được?” (Ga 6,52).

Ăn thịt và uống máu ông để được sống đời đời ư? (Ga 6,54).

Quả thật Đức Giêsu đã chấp nhận chết để nhân loại được sống.

Ngài ban sự sống bằng chính cái chết.

Con Thiên Chúa là Ngôi Lời đã thành người như ta (Ga 1,14),

có thân xác như ta, có máu và thịt như ta.

Trên thập giá, Ngài đã hiến trao máu và thịt của mình.

Máu của Ngài đã đổ, và thịt của Ngài chịu bầm dập nát tan.

Nhưng Đức Giêsu không muốn biến cố thập giá

chỉ xảy ra một lần trên Núi Sọ.

Ngài muốn Hy tế thập giá đó được diễn lại

trong Thánh Lễ mỗi ngày cho chúng ta đến tận thế.

“Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19).

Trong mỗi Thánh Lễ, Đức Giêsu mời chúng ta:

“Anh em hãy ăn, vì đây là Mình của Thầy,

đây là Thịt của Thầy, bị nộp vì anh em.

Hãy uống vì đây là Máu của Thầy, Máu đổ ra vì anh em”.

 

Người Do-thái khó chịu vì những lời Đức Giêsu nói.

Một số môn đệ đi theo Ngài cũng thấy chướng tai (Ga 6,60).

Họ xầm xì với nhau và tỏ ra không tin (Ga 6,64).

Họ không tin Ngài là Đấng từ trời xuống,

cũng chẳng tin chuyện “ăn thịt và uống máu” Ngài

để khỏi phải chết và được sống mãi.

Thế là họ lập tức rút lui, không đi với Ngài nữa.

Đức Giêsu buồn nhưng chấp nhận sự rút lui này.

Ngài tôn trọng chọn lựa và quyết định của họ.

Để theo Đức Giêsu, cần được Chúa Cha ban ơn (Ga 6,65),

nhưng cũng cần con người tự do đáp lại

bằng việc mở lòng ra trước lời của Đức Giêsu,

Lời đó là thần khí và là sự sống (Ga 6,63b).

 

Nhóm Mười Hai không thuộc nhóm môn đệ trên đây.

Khi Đức Giêsu hỏi về quyết định của họ: ra đi hay ở lại,

Simôn Phêrô đã đại diện anh em để nói lên ý cả nhóm:

Chúng con không thể bỏ Thầy, vì chỉ nơi Thầy

chúng con mới có những lời ban sự sống đời đời (Ga 6,68).

Sự sống đời đời hay sự sống lại trong ngày sau hết,

là những điều quý báu mà không ai khác có thể cho được.

Chúng con tin Thầy có thể cho chúng con

vì Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Ga 6,69).

 

Thời nào cũng vậy, các môn đệ vẫn bị cám dỗ rút lui,

không đi với Giêsu nữa, không ở trong Giáo hội nữa.

Những lời của Chúa Giêsu vẫn là những lời khó nghe.

Có những câu Lời Chúa như viên đá làm ta bị vấp.

Có những giáo huấn của Giáo Hội thấy khó chấp nhận

như không được ly dị hay phá thai…

Hơn nữa có những gương xấu trong giới lãnh đạo Giáo Hội

làm chúng ta hoang mang thất vọng.

 

Hãy ở lại với Giêsu khi ta nghi ngờ quyền năng của Ngài,

vì chiến tranh, dịch bệnh và sự dữ tung hoành trên thế giới;

Hãy ở lại với Hội Thánh ngay khi Hội Thánh ít thánh nhất.

Ở lại như thế cần có đức tin mạnh mẽ biết bao!

Xin cho chúng ta dám nói như Phê-rô: “Chúng con xin ở lại!”

 

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, con cám ơn Chúa

về tất cả những điều Chúa đòi hỏi nơi con trong suốt cuộc đời.

Chúc tụng Chúa về thời đại con đang sống.

Chúc tụng Chúa về những giờ phút sướng vui

và những ngày tủi thân buồn bã.

Chúc tụng Chúa về cả những gì

Chúa đã không cho con được hưởng.

 

Lạy Chúa, xin đừng sa thải

người tôi tớ bất xứng và lười biếng của Chúa đây.

Ôi lạy Chúa khôn ngoan, nhân hậu và yêu thương,

xin đừng đuổi con xa Chúa.

Xin giữ con để con luôn phụng sự Chúa trong suốt đời con.

Xin giữ con để con phục vụ bất cứ điều gì Chúa muốn.

Dù khi mỏi mệt, dù khi chán chường,

con xin Chúa vẫn luôn kiên nhẫn,

để không bao giờ mỏi mệt về con,

và giữ con luôn luôn phụng sự Chúa.

 

Xin Chúa đến giúp con,

ban cho con ơn bắt đầu và lại bắt đầu,

cho con biết cậy trông

cả những khi cùng đường tuyệt vọng,

cho con tin chắc rằng Chúa sẽ thắng,

một chiến thắng huy hoàng nơi con.

 

(Karl Rahner)

 

BÀI 2: LỜI BAN SỰ SỐNG

 

Suy Niệm

Chẳng nên ngạc nhiên nếu có lúc đức tin gặp khủng hoảng.

Cả lịch sử Cựu Ước đong đưa giữa tin và không tin.

Khi Ðức Giêsu đến, người ta phải đứng trước một lựa chọn:

tin hay không tin vào Lời Ngài, vào con người Ngài.

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy

một kinh nghiệm về khủng hoảng đức tin nơi chính các môn đệ.

Kinh nghiệm ấy thật gần gũi với con người hôm nay.

 

Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?

Ðó là phản ứng của một số môn đệ ngày xưa

khi nghe Thầy Giêsu vén mở căn tính của Thầy.

Họ không tin khi Thầy nói mình từ trời mà xuống (Ga 6,38),

và Thầy sẽ trở lại nơi Thầy đã ở trước kia (c.62),

sau khi hiến mình chịu chết cho nhân loại (c.51)